Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Cột cờ Lũng Cú - Biểu tượng tràn đầy tự hào của Tổ Quốc

Trên bản đồ Việt Nam, Lũng Cú là một “chóp nón” đầy kiêu hãnh, là vùng đất mà người Việt nào cũng mơ ước được một lần đặt chân đến. Tọa lạc ở nơi cao nhất của “mỏm cực Bắc”, Cột cờ Lũng Cú - di tích lịch sử quốc gia đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền Tổ quốc Việt Nam.

Điểm đến hấp dẫn 

Trong những ngày tháng Tám lịch sử, chúng tôi đến Hà Giang, ghé thăm cột cờ Lũng Cú - điểm cao nhất của cực Bắc Việt Nam. Từ thành phố Hà Giang đến Đồng Văn, chúng tôi trải qua chặng đường gần 200 km đường núi, với những đoạn cua tay áo đến chóng mặt. Và rồi, sau hơn nửa ngày vật vã, chúng tôi cũng “bò” được lên đến địa phận xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, nơi có Di tích lịch sử quốc gia Cột cờ Lũng Cú.

Nhìn từ dưới lên, cột cờ Lũng Cú sừng sững trên đỉnh núi Rồng, lá cờ đỏ sao vàng tung bay phần phật trong gió đầy kiêu hãnh. Vừa là di tích lịch sử, vừa là điểm cực Bắc Tổ quốc linh thiêng, hùng vĩ, nên nhiều năm qua, di tích Cột cờ Lũng Cú luôn là một điểm đến yêu thích của hàng vạn du khách gần xa. 


Theo chân các du khách tour Hà Giang đến từ khắp mọi miền đất nước, chúng tôi lên thăm Cột cờ Lũng Cú - di tích lịch sử linh thiêng, hào hùng của dân tộc. Đường lên Cột cờ quốc gia Lũng Cú được xây dựng với tổng số 839 bậc thang, chia làm 3 chặng. Chặng đầu tiên 425 bậc, kéo dài từ chân núi lên vị trí nhà chờ. Chặng thứ 2 gồm 279 bậc, từ vị trí nhà chờ lên đến chân cột cờ và chặng thứ ba là 135 bậc nằm trong lòng cột cờ. 

Mỗi bước đi trên bậc thang dẫn lên đỉnh cột cờ, chúng tôi được trải qua những cung bậc cảm xúc khác nhau. Càng lên cao, cảnh đẹp của Lũng Cú càng trở nên huyền ảo. Từ trên cao nhìn xuống, du khách có thể thỏa thê ngắm nhìn núi non trùng điệp, hùng vĩ nơi địa đầu Tổ quốc, không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tựa như một bức tranh thủy mặc khổng lồ của vùng đất này. Xen lẫn cảnh đẹp kỳ vĩ ấy, là những nếp nhà trình tường, những mái ngói âm dương cổ kính bảng lảng làn khói lam chiều từ bản Lô Lô Chải, bản người dân tộc Mông dưới chân cột cờ, để rồi cảm nhận sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người nơi miền biên ải. 

Từ chân cột cờ, men theo những bậc thang hình xoắn ốc, để leo lên đỉnh cột cờ. Và rồi, cái cảm giác thoát ra từ không gian nhỏ hẹp, mờ tối để bước ra giữa khoảng trời bừng sáng, cao ngất trên đỉnh cực Bắc, được ngắm nhìn lá cờ linh thiêng tung bay phần phật, kiêu hãnh trong nắng, gió vùng biên ải, được chạm tay vào lá cờ đỏ thắm khiến chúng tôi tràn ngập xúc động và cũng rất đỗi tự hào. 

Anh Đoàn Như, một du khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ: “Trải nghiệm cảm giác khi đến thăm Cột cờ Lũng Cú, nơi cực Bắc Tổ quốc là niềm vinh dự đối với bất kỳ công dân Việt Nam nào và với tôi cũng không ngoại lệ. Đây là lần đầu tiên tôi đến Lũng Cú, được chạm tay vào và tận hưởng cảm giác mềm mại từ lá cờ thiêng liêng, cảm xúc thật khó tả. Tôi vô cùng tự hào vì mình đã được đến đây”. Và, chắc hẳn, đây cũng là cảm giác của rất nhiều du khách khi đến đây. 

Linh thiêng Cột cờ Lũng Cú

Những ai đặt chân đến Cột cờ Lũng Cú, chắc hẳn sẽ không quên được câu chuyện nhuốm màu huyền thoại về đỉnh Lũng Cú, mà cô thuyết minh viên duyên dáng vẫn thường kể mỗi khi có du khách đến thăm. Chuyện kể rằng, Lũng Cú là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc, trong đó nhiều nhất là đồng bào Mông và Lô Lô.


Lũng Cú có nhiều tên gọi, theo cách gọi dân dã, mộc mạc của đồng bào dân tộc Mông, thì Lũng Cú là Lũng ngô (vì theo tiếng Mông, cú có nghĩa là ngô). Còn đồng bào dân tộc Lô Lô thì gọi Lũng Cú là Long Cư - nơi rồng ở theo phiên âm tiếng Hán. Tương truyền rằng, khi xưa, rồng tiên xuống trần gian du ngoạn, yêu mến cảnh sắc tuyệt vời ở nơi đây, mà đậu xuống ngọn núi trước làng, chính là ngọn núi Rồng ngày nay. 

Yêu mến mảnh đất này, nhưng rồng tiên cũng nhận thấy cuộc sống của người dân nơi đây vô cùng cực khổ, thiếu nước sinh hoạt trầm trọng, nên trước khi về trời, rồng tiên động lòng trắc ẩn, đã để hai con mắt của rồng tại nơi này. Và hai mắt rồng đã hóa thành hai hồ nước ngọt ở hai bên chân núi. Một hồ nước của làng Thèn Pả (thuộc làng dân tộc Mông) và một hồ nước của làng dân tộc Lô Lô. 

Nhờ có 2 hồ nước ngọt này mà cuộc sống của người dân nơi đây đã bớt phần vất vả. Điều kỳ diệu là, dù thời tiết có khô hạn thế nào, nước ở hai hồ này không bao giờ cạn. Xưa kia, người dân trong làng vẫn sử dụng nước ở hai hồ để ăn uống và sinh hoạt. Nhưng ngày nay, nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã xây dựng cho các hộ gia đình những bể chứa nước mưa tại nhà, chính vì vậy, người dân không sử dụng nước ở hồ để sinh hoạt nữa, mà chỉ sử dụng để tưới tiêu phục vụ mùa màng. 

Cùng với truyền thuyết về núi Rồng của cô hướng dẫn viên, du khách du lịch Ha Giang 3 ngay 2 dem còn được nghe câu chuyện lịch sử đầy oai hùng về Cột cờ Lũng Cú từ một cán bộ của Đồn Biên phòng Lũng Cú. Theo Thượng tá Phạm Ngọc Thủy, Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên - Đồn Biên phòng Lũng Cú, sử sách ghi lại, di tích Cột cờ Lũng Cú ra đời từ thời Lý. Khi xưa, Thái úy Lý Thường Kiệt hội quân về trấn ải vùng đất biên thùy, đã cho cắm một lá cờ trên đỉnh núi Rồng, để khẳng định chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta. Nhờ cột cờ này, mà suốt chiều dài lịch sử, mảnh đất biên ải nơi cực Bắc được tồn tại đến hôm nay. 

Đến thời Tây Sơn, khi vua Quang Trung đánh tan quân xâm lược, đã nhận ra tầm quan trọng của vùng đất biên ải này và đã cho xây dựng một đồn gác nơi đây, dưới đồn gác cho đặt một trống đồng, mỗi một canh được đánh lên ba hồi đĩnh đạc, vang xa để khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Cũng vì lẽ đó, mà mảnh đất này còn có tên gọi là Long Cổ (tức trống của vua). Đến năm 1978, Đồn Công an nhân dân vũ trang Lũng Cú (nay là Đồn Biên phòng Lũng Cú) cho cắm cột cờ tại đỉnh núi Rồng tại vị trí bây giờ. Lúc đó cột cờ chỉ bằng cây sa mộc, cao 12 m, lá cờ rộng 1,2 m2. Năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, đỉnh núi Rồng được lực lượng Công an nhân dân vũ trang Lũng Cú đóng chốt ở đó để bảo vệ núi Rồng. 

Đến năm 2000, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Giang, đã cho phép huyện Đồng Văn xây dựng công trình mang tầm cỡ quốc gia, và cột cờ bằng bê tông cốt thép được xây dựng, thay cho cột cờ bằng gỗ lúc bấy giờ. Để phù hợp với cột cờ to và bề thế, thì lá cờ rộng 54 m2 được ra đời từ đó. Với những giá trị lịch sử sâu sắc, ngày 18/11/2009, Nhà nước đã công nhận Cột cờ Lũng Cú là Di tích lịch sử quốc gia. 

Năm 2010, khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lên thăm Cột cờ Lũng Cú, đã đồng ý cho phép Hà Giang xây dựng cột cờ mới to đẹp hơn, bề thế hơn để khẳng định vị thế của đất nước ta trong công cuộc đổi mới, và khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc. 


Cột cờ Lũng Cú hiện nay được khởi công ngày 8-3-2010, hoàn thành vào đúng ngày Quốc khánh, ngày 2-9-2010. Cột cờ tọa lạc trên đỉnh núi Rồng, có độ cao 1.468 m so với mặt nước biển. Tổng chiều cao gần 35m, lá cờ rộng 54 m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam. 

Dưới chân cột cờ có 8 bức phù điêu bằng đá xanh, trên 8 bức phù điêu là những hình ảnh minh họa quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta, đan xen vào đó là các nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc ở Hà Giang. Phía trên 8 bức phù điêu có gắn 8 mặt trống đồng, vừa là biểu trưng của văn hóa Việt Nam, vừa để nhớ đến tiếng trống của vua Quang Trung khi xưa, để con cháu ngàn đời sau nhớ đến công dựng nước của ông cha ta ngày trước. 

Thượng tá Phạm Ngọc Thủy cho biết, trong suốt những năm tháng chiến tranh và đến mãi sau này, nhiệm vụ bảo vệ lá cờ Tổ quốc trên đỉnh Lũng Cú được giao cho cán bộ chiến sỹ Đồn Biên phòng Lũng Cú. Khi lá cờ bạc màu hoặc bị rách, các chiến sỹ thay thế bằng một lá cờ mới. Những hôm gió quẩn, lá cờ cuốn vào thân cột, anh em chiến sỹ phải trèo lên gỡ lá cờ ra, để lá cờ tiếp tục tung bay kiêu hãnh. 

“Những lá cờ Tổ quốc trên Cột cờ Lũng Cú, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đã phai màu vì nắng mưa hay bị rách vì mưa gió được đơn vị giữ lại, và làm quà tặng cho những đoàn khách đặc biệt đến thăm Lũng Cú. Đến nay, lá cờ Tổ quốc trên đỉnh Lũng Cú đã trở thành một kỷ vật thiêng liêng, mà rất nhiều đoàn công tác mong muốn có được”, Thượng tá Phạm Ngọc Thủy cho biết.

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

Vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú của núi Cấm Sơn

Với vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú, lại nằm ngay thành phố Hà Giang, núi Cấm Sơn mọc lên như một kỳ quan hùng vĩ, hút bao ánh nhìn đến đây.

Hà Giang được biết đến là điểm du lịch thu hút khách nhất hiện nay. Nơi đây không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng, khí hậu trong lành mà còn nổi tiếng với những kỳ quan thiên nhiên đẹp. Đặc biệt, khi đến với thành phố Hà Giang du khách du lịch Đồng Văn Mèo Vạc không thể bỏ qua sức hấp dẫn của núi Cấm Sơn điểm đến du lịch đầy mê hoặc.


Núi Cấm Sơn được chia thành 2 phần địa hình khá riêng biệt nhưng chúng lại hỗ trợ nhau làm nên vẻ đẹp của nơi này. Từ trên đỉnh núi theo hướng dốc Mã Tim chủ yếu là địa hình hang sâu vách đá dựng đứng hiểm trở, những vách đá nối tiếp nhau. Ngược lại phía từ đỉnh núi trải dài về phía sông Lô là núi đất, sườn núi vách dốc chạy suốt từ đường 19/5 đến quảng trường 26/3. Nếu như ở 2 bên đỉnh núi kéo xuống là địa hình núi đá thì phía chân núi là những phố phường đông đúc dân cư, làm ăn sầm uất.

Đường lên đỉnh Cấm Sơn chỉ duy nhất một đường độc đáo tạo nên cho Cấm Sơn nhiều điều huyến bí khiến người ta muốn khám phá ngay lập tức. Men theo con đường độc đạo đầy hiểm trở sẽ đến một cái hang sâu thẳm, thẳng đứng được gọi là “giếng trời”. 

Núi Cấm huyền bí gắn với một cầu chuyện giàu lòng vị tha và tính nhân văn cao cả. Nơi đây tương truyền có đội quân “cờ đen” của Lưu Vĩnh Phúc, khoảng những năm 1870 – 1875, địa hạt Hà Giang có đội quân “cờ vàng” của Hoàng Sùng Anh kéo đến để cướp bóc, chúng bị đội quân của đồng bào các dân tộc là “Quân cờ trắng” đánh trả quyết liệt, bao vây truy kích, năm 1875, quân “Cờ vàng” của Hoàng Sùng Anh bị co cụm, đội quân của mình lên núi Cấm để cố thủ, lương thực cạn kiệt dần, xung quanh núi Cấm lại bị bao vây chặt, biết không thể thoát, cả tướng lẫn quân “Cờ vàng” đã nhảy xuống hang sâu trên núi tự vẫn. Với tấm lòng bao dung và nhân hậu người dân nơi đây đã lập miếu thờ nhỏ cầu nguyện cho những linh hồn oan khuất nơi chín suối. Kể từ đó, núi Cấm trở nên huyền bí và linh thiêng hơn. Tuy nhiên, sau bao năm tháng thằng trầm, đền thờ trên núi Cấm đã được đưa về thờ tại “Cấm Sơn Linh Từ” dịch là ngôi đền núi Cấm (nay là đền Mẫu). Trên đỉnh núi hiện vẫn còn vết tích của những hang đá sâu, hệ thống hầm hào, lô cốt từ thời thuộc Pháp.


Trong những năm gần đây, với chủ trương khai thác tiềm năng của núi Cấm phục vụ cho việc phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội. Núi cấm đã được đầu tư xây dựng tháp truyền hình lớn của tỉnh, và một số thiết chế văn hóa du lịch. Từ dưới chân núi (cầu Yên Biên II), du khách có thể đi lên núi bằng xe máy, ô tô đến lưng chừng núi, tiếp tục đi bộ theo con đường bậc thang đổ bê tông ngoằn nghèo cạnh sườn núi, luồn lách qua những kẽ đá tai mèo dựng đứng, bên là vực sâu thăm thẳm với những dây song mây rậm rạp đưa ta trở về ngược dòng thời gian, tìm thấy những dấu ấn lịch sử của “Cấm sơn”.

Từ trên đỉnh núi, du khách tour du lịch Hà Giang có thể nhìn thấy toàn bộ phong cảnh thành phố Hà Giang thơ mộng. Năm ngả đường đổ về thành phố, hoà quyện cùng với hai dòng hợp lưu của sông Lô và sông Miện trong xanh chảy giữa lòng thành phố, xung quanh thành phố là những dãy núi thế Rồng chầu Hổ phục, bao quanh những công viên cây xanh và những khu đô thị sầm uất, thể hiện sự bền bỉ và trường tồn của một thành phố đầy tiềm năng du lịch.

Hiện nay, núi Cấm Sơn ở Hà Giang đã trở thành điểm đến du lịch đầy hấp dẫn đối với những du khách muốn khám phá nhiều điều thú vị và chinh phục sự huyền bí nhất trên đỉnh Cấm Sơn. Nếu có dịp đến với mãnh đất Hà Giang đầy hùng vĩ du khách đừng quên bỏ qua cơ hội chinh phục đỉnh núi Cấm đầy huyền bí vô cùng thú vị này.

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

Vẻ đẹp cổ kính đậm nét truyền thống của làng cổ Phú Vinh

Nằm gần thành phố du lịch nổi tiếng Nha Trang, làng cổ Phú Vinh là một điểm đến mới lạ, mang đến không gian cổ xưa của làng quê miền Trung. 

Cách thành phố biển Nha Trang hơn 4km, làng cổ Phú Vinh thuộc xã Vĩnh Thạnh là nơi thu hút hàng chục nghìn khách du lịch tour Hà Nội Nha Trang 3 ngày 2 đêm mỗi năm. Ngôi làng này có lịch sử hình thành trên 200 năm, và còn lưu giữ được khá nhiều ngôi nhà cổ. Trong đó, có 6 nhà cổ đẹp nhất và nguyên vẹn nhất sẽ được giới thiệu trong chương trình tham quan. 


Trong khu vực làng cổ còn tồn tại rất nhiều ngôi nhà cổ theo kiến trúc miền Trung. Người dân ở đây quen gọi đó là cách xây dựng Bát căn dần (ba gian có 36 cột ). Đa phần các nhà đều xây dựng cách đây hơn 100 năm, cửa gỗ và rường cột có chạm khắc. Những nhà cổ ở Nha Trang đều còn đậm nét nhà quê với sân vườn. Cửa nhà là những tấm gỗ khá cầu kỳ. 

Điểm đến chính của tour du lịch làng cổ Phú Vinh chính là ngôi nhà cổ của ông Nguyễn Xuân Hải. Ngôi nhà này đã trải qua sáu đời nhưng hầu như chưa hề sửa chữa lần nào và vẫn được bảo tồn nguyên trạng. Ngôi nhà nằm trong khuôn viên một khu vườn rộng tới hơn 4.000 m2, được xây dựng theo kiểu nhà Việt cổ truyền thống với ba gian, năm chái nối liền nhau, lợp ngói âm dương. Trong nhà, các vật dụng cổ xưa đều còn nguyên vẹn. Xung quanh nhà là khu vườn rợp bóng cây với những loại cây ăn trái như chôm chôm, sầu riêng, mít, nhãn, mãng cầu... 

Phí tham quan một ngôi nhà cổ ở Phú Vinh thường là 5.000 đồng/người. Du khách sẽ nhận được sự đón tiếp nồng hậu và mến khách của chủ nhà bởi những đĩa trái cây "cây nhà lá vườn" và được thưởng thức không gian bình yên khi cùng chủ nhà uống trà trong khu vườn xanh mát. 

Ngoài những ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi, Phú Vinh còn là một làng nghề. Những chiếc xe ngựa dân dã sẽ đưa du khách rong ruổi trên những con đưòng cổ rợp bóng cây, bên những giếng làng rêu phong. Chi phí cho mỗi chuyến xe ngựa là 20.000 đồng và mỗi xe chỉ chở được hai người. 

Dạo chơi trên đường quê bằng xe ngựa là cái thú rất lạ, nếu không nói đó là một cảm giác hoàn toàn mới. Cứ hai khách leo lên một chiếc xe ngựa. Người lái xe ngựa đã có hơn 30 năm điều khiển chiếc xe “thế kỷ” sẽ đưa bạn đến thăm làng nghề dệt chiếu và làng nghề se nhang. 

Sự hấp dẫn của chuyến đi dạo làng cổ Nha Trang chính là sự ẩn hiện đến lạ kỳ của một miền quê với "hàng cau phía trước, bụi chuối phía sau”, còn là bắt gặp cổng làng chơ vơ trên con đường mòn băng qua những bờ ruộng theo cách nhà văn Lỗ Tấn nói "Người ta đi mãi mà thành đó thôi". 

Đến với làng cổ Phú Vinh, du khách tour đi Nha Trang 4 ngày 3 đêm sẽ có được những phút giây thảnh thơi trong không gian quê kiểng, giữa rơm rạ cây cỏ. Món quà nhỏ từ Phú Vinh mà bạn có thể mua về làm kỉ niệm là những chiếc bình đựng nước và gáo múc nước xinh xắn được làm bằng trái dừa khô, để ghi nhớ một chuyến du hành về một vùng quê cổ miền Trung.. 

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2018

Vẻ đẹp an vui yên bình của Cù Lao Câu

Không điện, chỉ xài điện mặt trời. Gần như không có nước, chỉ xài nước mưa hứng xuống để dành. Không dân cư, chỉ có trung đội bộ đội biên phòng trấn giữ. Các sinh vật khác trên đảo là mấy chú chó được bộ đội nuôi và chim én…


Chưa bao giờ mình đặt chân lên một hòn đảo như thế và chính vì những điều này càng khiến Hòn Lao Câu trở nên hấp dẫn hơn vì những thứ không đụng hàng của nó. Hòn đảo thuộc xã Phước Thể, huyện Tuy Phong, Bình Thuận này nhỏ lắm, chỉ dài 1500m và cách bờ 9 km. Đi tàu từ đất liền ra hết khoảng 1 tiếng rưỡi, cứ thấy xa xa, một hòn đảo nhỏ vàng lên trong nắng vì màu đá nắm lẻ loi giữa biển trời xanh, là tới. Nếu du khách du lịch Phan Thiết Mũi Né rời đảo về vào cuôí buổi chiều, là bạn đang thử thách sự deo dai cuả sức khoẻ bạn đấy. Khi cứ phải lắc lư liên tục trên con tàu đang trồi lên thụp xuống qua từng con sóng. (Buổi chiều thường sóng lớn hơn). Nhưng có lẽ, chuyện này không thành vấn đề, nếu bạn là ngừơi quen thử thách và thích phiêu du.

Ở cái xứ thường xuyên khô hạn này thì đảo Hòn Lao Câu cũng không là ngoại lệ, nên cây trên đảo rất ít, bù lại, đá nhiều vô kể với đủ loại hình thù lớn bé. Nước biển quanh đảo xanh và trong vắt, nhìn rõ thấy đáy. Sóng nhẹ lắm, nhưng sợ làm ồn thêm cái không khí yên tĩnh và hoang sơ. Một cái không khí không phaỉ lúc nào cũng dễ kiếm ra được ở các điểm đến du lịch bây giờ. Và vì thế, nó không phải là nơi dành cho những ai thích du lịch salon.


Du khách du lịch hè 2018 tha hồ sục sạo quanh đảo, cứ thoaỉ mái hỏi thăm tất cả những câu chuyện thú vị liên quan đến đảo từ những ngừơi lình thân thiện, hiếu khách ở đây. Nếm cái cảm giác lần đầu tiên được đi hết một vòng quanh đảo. Leo lên hang én để xem loài chim tượng trưng cho mùa xuân này làm tổ như thế nào. Rôì ngồi trong bóng râm, giữa những khối đá to ngoài hang mà đón gió biển lồng lộng mát dù trời đang hực nắng. Hoặc đợi thêm chút nữa, đợi chiều đi, nhạt nắng, đằm mình trong làn nước trong veo ngắm mặt trời đang chìm dần trên biển, sẽ thấy lòng thanh thản, an vui giữa trời mây nước yên bình.

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2018

Chiêm ngưỡng cảnh quan tuyệt đẹp của lầu Bảo Đại

Biệt thự Cầu Đá (còn gọi Lầu Bảo Đại) tọa lạc trên đỉnh núi Chụt, là một di tích lịch sử văn hóa khá nổi tiếng, nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 6km. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo, có sự kết hợp hài hòa giữa phong cách kiến trúc phương Tây với nghệ thuật hoa viên phương Đông hấp dẫn với du khách tour Nha Trang 3 ngày 2 đêm. Cụm di tích này từng là nơi nghỉ dưỡng của vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu mỗi khi đến phố biển Nha Trang.


Biệt thự Cầu Đá được xây dựng trên ba ngọn đồi của núi Chụt, nhô ra giữa biển xanh, thuộc phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang. Khu biệt thự này nằm ở vị trí đắc địa nhất vịnh biển Nha Trang. Từ xa, núi Chụt chạy dài theo bờ biển giống như con rồng xanh khổng lồ ôm lấy phố biển, ba ngọn đồi nhô lên mỏm núi giống như đầu rồng đang vươn ra giữa biển xanh. 

Biệt thự Cầu Đá gắn liền với sự ra đời của Viện hải dương học Đông Dương (hiện là Viện hải dương học Nha Trang). Năm 1923, người Pháp đã xây dựng một cụm biệt thự trên núi Chụt để làm nơi ăn ở cho các nhà hải dương học đến nghiên cứu vùng biển Đông Nam Á, bởi Nha Trang gần trung tâm điểm của biển Đông, nơi hội tụ các quần thể sinh vật biển đa dạng và phong phú. Từ đó, núi Chụt hoang sơ đã dần mọc lên năm ngôi biệt thự trên đỉnh đồi và ba nhà làm việc, nghiên cứu thực nghiệm khoa học dưới chân đồi, sát mé biển. Người Pháp đặt tên cho các ngôi biệt thự này theo tên các loài cây và hoa trồng xung quanh. Lần lượt từ mỏm núi trở vào là biệt thự Xương Rồng, Bông Sứ, Bông Giấy, Phượng Vĩ, Cây Bàng. Chủ nhân đầu tiên của biệt thự Xương Rồng là tiến sĩ A.Crem, người Đức. Ông là vị giám đốc đầu tiên của Viện hải dương học Nha Trang. Từ năm 1940 đến 1945, hoàng đế Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương thường đến nghỉ ngơi ở biệt thự Xương Rồng, lấy việc câu cá, ngắm biển làm thú tiêu khiển nên cái tên Lầu Bảo Đại có từ đó. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, gia đình tổng thống Ngô Đình Diệm là chủ nhân mới của hai khu biệt thự Xương Rồng và Bông Sứ. Bà Trần Lệ Xuân - phu nhân cố vấn Ngô Đình Nhu - đã đặt tên mới cho biệt thự Xương Rồng là Nghinh Phong và Bông Sứ là Vọng Nguyệt. Từ sau năm 1975, Lầu Bảo Đại đã mở cửa đón và phục vụ khách tham quan du lịch.  


Năm tòa biệt thự được xây dựng theo kiến trúc của Pháp trong khuôn viên rộng 12ha, ẩn mình dưới những tán cây bàng tỏa bóng mát quanh năm. Kiến trúc và cảnh quan hài hòa tạo cho du khách cảm giác thoải mái, phiêu bồng mỗi khi ghé thăm. Tại những tòa biệt thự này, du khách du lịch Nha Trang 4 ngày 3 đêm có thể nhìn ra biển xanh với những hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô. Khuôn viên Lầu Bảo Đại ôm một vòng cung tạo ra eo biển nhỏ với những rặng dừa, biển xanh cát trắng nắng vàng. Đến Lầu Bảo Đại vào mùa hè, các loài hoa đua nhau khoe sắc, đặc biệt là phượng vĩ. Từ Lầu Bảo Đại, du khách có thể thả tầm nhìn ra xa, ngắm toàn bộ thành phố biển Nha Trang với những cảnh quan tuyệt đẹp. Hiện nay, biệt thự Cầu Đá trở thành khu du lịch Bảo Đại, một điểm du lịch thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng.

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018

Cá xương xanh -- Món ngon của lạ của Phú Quốc

Một trong những “món ngon của lạ” mà ngư dân ở đảo Nam Du (Kiên Giang) hết sức tự hào là cá xương xanh. Loài cá này có thịt ngọt, dai nhưng lại sở hữu chiếc mỏ dài, nhọn hoắt tựa như lưỡi kiếm, có thể vô tình làm con người bị thương nặng hoặc mất mạng.

Từ vùng biển Thanh Hóa chạy dài đến Kiên Giang, nơi nào cũng có họ hàng cá xương xanh sinh sống. Nhưng cá tập trung nhiều nhất là ở quần đảo Nam Du (huyện Kiên Hải, Kiên Giang). Cá xương xanh có quanh năm, mùa sinh đẻ chính của chúng là từ tháng 2 đến tháng 5.


Loài cá này có thân mình tròn lẳn, dài từ nửa mét đến cả mét, lớp da màu đen xanh. Đặc biệt, toàn bộ phần xương của chúng cũng có màu xanh ngọc bích. Cá thường sống ở khu vực các ghềnh đá, bãi biển nơi tầng nước mặt, độ sâu từ khoảng hơn 1m. Ngoài ra, cá xương xanh có thể phóng cao bất ngờ nên ngư dân còn đặt cho chúng biệt danh là cá nhái.

Với chiếc mỏ dài, nhọn hoắt như lưỡi kiếm cùng hàm răng sắc, du khách tour Phú Quốc 4 ngày 3 đêm dễ liên tưởng cá xương xanh giống một tay “sát thủ” trên biển. Loài này thường đi thành đàn gần mặt nước. Chỉ cần nghe tiếng động, chúng sẽ quật đuôi phóng mạnh lên cao. Nếu ai xui xẻo, lỡ bị cái mỏ nhọn của chúng đâm trúng chỗ hiểm thì có thể bị thương nặng hoặc mất mạng như chơi.

Biết cá xương xanh là loài háu ăn, nên ngư dân đã nghĩ ra cách để bắt cá mà không dùng đến mồi hay lưỡi câu. Người ta lấy một chùm dây nilon đủ màu, dài khoảng 15cm đem xé thành nhiều sợi nhỏ, buộc túm một đầu rồi ném xuống biển.


Khi thuyền di chuyển, chùm dây nilon sẽ xòe ra giống như những con cá đang bơi. Cá xương xanh tưởng nhầm là mồi sẽ đuổi theo để cắn. Lúc này, bộ răng dày đặc của chúng sẽ bám chặt vào chùm dây nilon mà không tài nào thoát ra được.

Nếu không sử dụng dây nilon, ngư dân có thể đi bắt cá vào ban đêm. Người ta chỉ cần đội đèn pin lên đầu, điều khiển thuyền bằng chân và dùng cái chĩa có tới 13 răng để đâm cá. Tuy cách này bắt được nhiều hơn, nhưng khi vớt cá lên sẽ không còn lành lặn, buộc phải bán với giá thấp hơn.

Cá xương xanh tuy không phải là đặc sản có giá trị kinh tế cao nhưng lại rất được ưa chuộng vì ít xương, thịt cá màu trắng và có vị ngọt. Cá xương xanh mang về, đem chặt cái mỏ lưỡi kiếm, cắt bỏ mang rồi lấy nội tạng ra, sơ chế sạch sẽ là đã có thể biến tấu thành nhiều món ngon độc đáo. Trong đó, hấp dẫn nhất là món nướng bẹ chuối và khô cá xương xanh nấu sim lo.

Món cá xương xanh nướng bẹ chuối rất thơm ngon, chỉ nhìn thôi cũng đã ứa nước miếng. Người ta chọn những con cá thật tươi từ biển mới mang về, cạo rửa sạch nhớt rồi dùng bẹ chuối xiêm ốp lại, quấn dây thật kỹ. Sau đó chất củi lên nướng cho đến khi nào bẹ chuối bị héo, khô là cá chín.


Khi mở bẹ chuối ra, thịt cá dậy mùi thơm lựng, dễ dàng chinh phục bất kỳ thực khách tour Phú Quốc 3 ngày 2 đêm khó tính nào. Thịt cá không chỉ ngọt mà còn dai dai, cuốn với bánh tráng, ăn kèm rau rừng như lá cách, lá lớp, đinh lăng, cải trời, đọt bứa… tạo nên một bản sắc riêng ít nơi nào có được. Nước chấm đi kèm có thể là nước mắm tỏi ớt hay các loại nước chấm khác, tùy khẩu vị của người ăn.

Còn với món khô cá xương xanh nấu sim lo, các bà, các mẹ cần chuẩn bị đầy đủ các nguyên liệu như khô cá xương xanh, bắp chuối, gia vị cần thiết như ngò om, ngò gai, ớt, cơm mẻ... Công đoạn chế biến khá phức tạp, đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế.

Món khô cá xương xanh nấu sim lo này tương tự như món canh chua của người miền Tây, thường ăn kèm nước mắm nhĩ cho thêm trái ớt tươi. Vị cay nồng của ớt hòa quyện vị ngọt của cá, vị chua chua của nước dùng tạo nên một món ăn hấp dẫn, ăn mãi không thôi.

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2018

Những trải nghiệm đầy thú vị về văn hóa ẩm thực miền Tây

Mỗi vùng đất đi qua đều mang lại cho bạn những trải nghiệm thú vị về nền văn hóa, ẩm thực. Nếu đến Cần Thơ, bạn đừng quên thưởng thức món nem nướng Cái Răng, bánh tét lá cẩm hay chuối nếp nướng từ lâu đã nức tiếng.

Bánh tét lá cẩm

Một món ăn nhất định bạn phải thử khi đến xứ gạo trắng nước trong là bánh tét lá cẩm, một món ăn mang hương vị đặc trưng mà không vùng nào có được. Bánh tét có màu sắc tuyệt đẹp, được làm bằng cách đun sôi nước lá cẩm rồi lấy nước đun cùng gạo nếp dẻo với nước cốt dừa. 


Muốn bánh có màu đẹp phải chọn những lá cẩm tươi, không được lẫn lá héo. Thịt lượn tươi được tẩm ướp vừa vặn cho ngấm rồi xào qua cùng nước cốt dừa trước khi gói bánh rồi đem luộc trong vòng 5 tiếng.

Xắt một miếng bánh đưa lên miệng, cảm nhận vị ngọt của thịt, của trứng muối mằn mặn cứ lan tỏa nơi đầu lưỡi.

Nem nướng Cái Răng

Nói đến nem nướng, ở nhiều vùng đất đều có nhưng ở mỗi nơi bạn lại cảm nhận những hương vị và cách chế biến khác nhau. Không như những loại nem đặc sản nổi tiếng khác, nem nướng Cái Răng lại có hình dạng dài, hình đốt chuyên dùng để cuốn bánh tráng và các loại rau thơm đi kèm.


Nguyên liệu để làm nem chủ yếu từ thịt lợn được quết nhuyễn rồi vo tròn lại thành từng viên nhỏ. Người chế biến xâu từng viên nem tròn trĩnh qua một chiếc thanh tre chuốt nhỏ đầu, rồi khéo léo nướng trên bếp than hồng làm sao cho thịt chín ở bên trong, mà bên ngoài không bị cháy xém hay quá khô, thơm nức và mướt mỡ.

Đĩa nem được dọn ra gồm những xiên thịt chín mềm, thơm nức vùng đĩa rau sống xanh mướt, khế chua, chuối chát, đĩa bánh hỏi trắng và bát nước chấm.

Khi ăn, thực khách chỉ cần tuốt nhẹ những viên nem, cuốn cùng chút rau sống khế, chuối, bánh hỏi vào trong lớp bánh tráng mỏng, chấm ngập trong thứ nước tương ngọt thơm, thêm chút đậu phộng và ớt bằm nhỏ, cả nhận vị ngon ngọt cứ quyến luyến nơi đầu lưỡi.

Chuối nếp nướng


Đây là món ăn đã được nhiều tạp chí trên thế giới vinh danh. Trái chuối nhỏ xinh, không quá mập mạp được bóc vỏ. Gạo nếp ngâm qua đêm cho nở, mềm gạo rồi đãi sạch, trộn thêm chút muối rồi cho vào nồi hấp chín, thỉnh thoảng đổ thêm chút nước dừa cho ngọt, thơm.

Gạo nếp được tán nhuyễn rồi bọc chuối vào, cho lên bếp nướng cho đến khi chuyển sang màu vàng. Chuối nếp nướng ngon là những trái bên ngoài ăn giòn nhưng bên trong vẫn mềm, trái chuối không bị nhũn.