Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

Kiến trúc dân gian độc đáo của chùa Thầy

Chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách (huyện Quốc Oai, Hà Nội) được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2014, Bộ tượng Di Đà Tam Tôn tại chùa Thầy được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2015. Để phục vụ tốt hơn nhu cầu hành hương lễ Phật, tham quan các danh lam, thắng cảnh trong vùng của người dân, từ năm 2018, huyện Quốc Oai đã nâng cấp lễ hội chùa Thầy Hà Tây thành mùa lễ hội.


Theo truyền thống, lễ hội chùa Thầy được tổ chức vào các ngày 5, 6, 7 tháng 3 (âm lịch). Lễ hội chùa Thầy năm nay bắt đầu từ mồng 1 Tết Nguyên đán và kéo dài đến hết tháng 3 (âm lịch). Ba ngày hội truyền thống sẽ được tổ chức thành ba ngày chính hội trong mùa lễ hội. Theo Phó Chủ tịch UBND huyện Quốc Oai Nguyễn Đức Phương, kể từ khi chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2014, và một năm sau đó, ba pho tượng Di Đà Tam Tôn tại chùa Thầy được công nhận là Bảo vật quốc gia, lượng du khách đến với chùa Thầy ngày một đông hơn. Việc tổ chức thành mùa lễ hội chùa Thầy nhằm đáp ứng nguyện vọng của đông đảo khách thập phương.

Trên địa bàn Hà Nội, hiếm có khu vực nào có những giá trị độc đáo như khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách khi giữa vùng đồng bằng mọc lên một dải núi, gồm 11 ngọn núi đá. Nổi bật nhất trong dải núi đó là núi Sài Sơn (núi Thầy), hình vòng cung cao khoảng 100 m, từ xã Sài Sơn kéo xuống tận xã Hoàng Xá với bán kính hơn 3 km. Núi Sài với nhiều hang động nổi tiếng như hang Cắc Cớ, hang Thánh Hóa, hang Gió... Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072-1116) đã chọn chốn phong thủy hữu tình này là nơi tu hành. Hiện tại, chùa Thầy là một tổ hợp kiến trúc Phật giáo kết hợp kiến trúc dân gian lớn có niên đại thế kỷ 17 đến 18. Riêng chùa Cả đã là một tổ hợp kiến trúc hiếm có ở nước ta. Chùa nằm trên một bán đảo nhô ra hồ Long Trì. Ngoài các hạng mục quan trọng được xây dựng bề thế, quy mô, điểm độc đáo của ngôi chùa còn ở hai cây cầu cổ, kiểu thượng gia hạ kiều (trên là nhà, dưới là cầu) nằm hai bên chùa. Một cây cầu nối với làng xóm, một cây cầu nối chùa với đảo nhỏ. Ngay trước cửa chùa là một tòa thủy đình, gắn với truyền thuyết thiền sư Từ Đạo Hạnh dạy dân múa rối nước. Chỉ riêng hai cây cầu và tòa thủy đình (xây dựng khoảng thời Hậu Lê) cũng đã khiến khách tham quan tour du xuân 2019 bị mê hoặc bởi vẻ đẹp độc đáo và đặc sắc. Quanh núi Sài Sơn còn có chùa Cao (Đỉnh Sơn tự), theo truyền thuyết là nơi Từ Đạo Hạnh trút xác để đầu thai trở lại thành Vua Lý Thần Tông; chùa Một Mái (Bối Am tự), nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc từ ngày 3-2 đến 2-3-1947; chùa Long Đẩu, chùa Sài Khê...

Quần thể di tích chùa Thầy còn lưu giữ được hệ thống các di vật, cổ vật rất phong phú thuộc nhiều chủng loại, chất liệu. Trong đó, bộ tượng Di Đà Tam Tôn được công nhận là Bảo vật quốc gia, nằm trong Di tích quốc gia đặc biệt cho nên được ví như "báu vật nằm trong báu vật". Ngoài ra, quần thể này còn có một loạt các di tích quan trọng khác như: chùa Hoa Vân, đền Văn Xương, quán Hoàng Xá, chùa Hoàng Kim...


Từ năm 2017, UBND huyện Quốc Oai đã lên phương án Quy hoạch tổng thể Di tích quốc gia đặc biệt chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích, thu hút khách du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Huyện Quốc Oai sẽ di dời 47 hộ dân sống quanh hồ Long Trì dưới chân núi Thầy đến khu tái định cư mới để bảo đảm các vành đai bảo vệ theo quy định, mở đường giao thông bắc nam khu đô thị Quốc Oai, từ đại lộ Thăng Long về chùa Thầy rộng 42 m và mở đường dẫn từ đường vành đai du lịch về chùa Long Đẩu... Cũng từ năm 2017, UBND huyện Quốc Oai đã lên phương án đổi mới công tác tổ chức quản lý, tổ chức lễ hội chùa Thầy.

Dịp chính Hội năm nay, huyện Quốc Oai phục dựng nguyên bản các nghi thức tế, rước trong các ngày Lễ Mộc dục và Lễ Tạ Thánh. Huyện cũng tham vấn từ các nhà khoa học, từng bước khôi phục trang phục lễ tế truyền thống mang dấu ấn đặc trưng của mỗi thôn, làng trong quá trình thực hiện các nghi lễ. Bên cạnh phần lễ, Ban tổ chức cũng tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật trong phần hội. Các loại hình di sản phi vật thể của huyện Quốc Oai như: hát Dô xã Liệp Tuyết, hát Ví Hàm Rồng của xã Tuyết Nghĩa, múa rối nước của Sài Sơn, hát chèo của xã Đại Thành, hát tuồng của xã Dương Cốc... được trình diễn tại lễ hội. Ngoài việc trình diễn múa rối nước đặc sắc, các trò chơi dân gian truyền thống của người dân Sài Sơn như: đá cầu, bắt trạch trong chum, bịt mắt đập niêu, kéo co... được tổ chức khu vực sân trung tâm trước hồ Long Trì và chùa Long Đẩu.

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Những món ăn tuyệt ngon của Đường Lâm

Làng cổ Đường Lâm cách trung tâm TP. Hà Nội khoảng 50 km, là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa của làng quê Việt.

Nghề làm tương ở Đường Lâm có từ thời xa xưa và mỗi nhà đều có một vài vại tương phơi ngoài sân. Để có được bát tương ngon cũng cầu kỳ, kiểu cách. Để có nước tương ngon, người làng Đường Lâm có bí quyết dùng nước giếng Giang (giếng nước đá ong ở gần nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh), bởi nước từ giếng ấy trong văn vắt và ngọt lừ. Có nước đỗ ngâm từ đậu tương rồi, người làm tương Đường Lâm sẽ cho dấm mốc vào trong chum, phơi giữa sân dưới nắng hè tháng 6 cho thật nhuyễn.


Với nước tương ngon, người làng Đường Lâm đã sáng tạo ra những món ăn ngon. Không chỉ có cà ngâm tương, củ cải ngâm tương, người dân làng cổ còn có đặc sản “tuyệt chiêu” là thịt lợn luộc ngâm tương.

Món chè kho cũng là một món "mời chào" du khách tour du lịch làng cổ Đường Lâm tới với làng cổ. Chè kho làm từ đỗ xanh đã được đồ lên, rồi cho đường, dùng chiếc đũa cái to đảo thật đều tới khi những hạt đỗ như nát ra, láng mịn. Chè kho ăn khi nguội, dùng dao sắn từng miếng nho nhỏ đôi ba ngón tay, vừa ăn, vừa nhấp môi với chè xanh thì sẽ thấy vị ngọt thơm dìu dịu lan tỏa rất dễ chịu.

Món kẹo dồi Đường Lâm được bày bán ngay ở khu nhà đầu làng - nơi du khách hay gửi xe để vào thăm làng. Nguyên liệu làm kẹo dồi không quá cầu kỳ, chỉ gồm mạch nha, đường và lạc. Tuy nhiên khâu làm kẹo mới quan trọng và đòi hỏi người làm phải có sức khỏe tốt để "đánh" kẹo. Kẹo sau khi chế biến xong sẽ được lăn qua lớp bột nếp trắng tạo thành một lớp phủ mịn màng. Khi ăn bạn sẽ cảm nhận vị bùi, ngậy thơm và nhớ đừng quên thưởng thức kèm một chén chè tươi nhé.


Đường Lâm còn nổi tiếng bởi món thịt quay đòn với hương vị khác biệt. Để làm món ăn này, thịt phải là loại ba chỉ ngon, tươi và có lớp da dày, không quá nhiều mỡ. Khi ăn thực khách tour du xuân 2019 sẽ cảm nhận phần bì của miếng thịt giòn tan, vàng ươm và thơm lừng vị bùi bùi của lá ổi. Thịt quay đòn ngọt, đậm vị và thơm mùi húng lìu, quyện lẫn với mùi lá ổi, ăn mãi mà không ngấy.

Theo quan niệm của người Đường Lâm, gà Mía là sản vật quý, thể hiện cho sự ăn nên làm ra, sung túc và đủ đầy trong mỗi gia đình. Đặc sản “đầu công, mình cốc…” này từng là sản vật “tiến vua” một thời...

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

Những món quà quê mang hương vị riêng của Đường Lâm

Làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) từ lâu đã thu hút số lượng lớn du khách trong và ngoài nước tới tham quan. Làng cổ Đường Lâm không chỉ nổi tiếng là nơi có những căn nhà với tuổi đời hơn một thế kỷ. Ở đây ,còn có những món ăn dân dã và tuyệt ngon.

Uống trà, ăn kẹo lạc, kẹo dồi... là một nét văn hóa giản dị mà gần gũi với nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt là người miền Bắc.

Phát huy lợi thế của một số nghề truyền thống, một bộ phận người dân nơi đây đã biết cách tạo ra sản phẩm du lịch góp phần làm giàu trên chính mảnh đất quê hương. Một trong những món quà quê để lại ấn tượng cho du khách tour du xuân 2019 đó là đặc sản kẹo dồi, kẹo lạc và bánh chè lam.


Về Đường Lâm tận hưởng thanh kẹo dồi trắng phau bên chén trà, bạn sẽ cảm nhận được hương vị dân dã của kẹo, cũng là cái duyên tình hồn hậu của lòng người nơi đây.

Uống trà, ăn kẹo lạc, kẹo dồi... là một nét văn hóa giản dị mà gần gũi với nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt là người miền Bắc. Kẹo lạc quen thuộc với mọi lứa tuổi, nhâm nhi tách trà hoài cổ kỷ niệm xưa cũ.

Đến làng cổ Đường Lâm, ai ai cũng biết đến thương hiệu kẹo lạc, kẹo vừng Hiền Bao do gia đình anh Cao Văn Hiền (thôn Đông Sàng, xã Đường Lâm) sản xuất đã đứng vững trên thị trường, có mặt không chỉ ở các cửa hàng trên địa bàn mà còn đến các tỉnh, thành lân cận. Đặc biệt sản phẩm kẹo lạc của gia đình anh còn đoạt giải Nhất cuộc thi sản phẩm du lịch Làng cổ ở Đường Lâm do cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản Jica tổ chức. 

Dẫu chẳng phải là miền đất “thai nghén” cho loại kẹo ấy, nhưng làng cổ Đường Lâm đã góp phần nuôi dưỡng món quà quê ấy đến ngày hôm nay, đưa người nay về với miền kí ức tuổi thơ. Với người con Đường Lâm, kẹo dồi đã trở thành một phần hương vị quê hương và bước vào trong những câu ca thật ngọt ngào.

"Dù ăn bánh kẹo mười phương
Không bằng kẹo lạc bộn đường quê tôi
Trắng phau là phong kẹo dồi
Giòn tan kẹo bột, bồi hồi tình quê
Chè kho ngọt lịm đam mê
Nhớ cơm phố Mía, tìm về đường Lâm"

Theo tương truyền thế kỉ XVII Bà Chúa Mía (là cung phi của Chúa Trịnh Tráng) đứng ra hưng công xây dựng lại Chùa Mía và dạy người dân làng Đường Lâm cách trồng mía nấu kẹo. Vị ngọt của cây mía đã được nhân dân sáng tạo ra rất nhiều thức kẹo ngon như kẹo lạc, kẹo dồi, kẹo vừng.


Nó đã trở thành sản phẩm truyền thống của làng nghề Đường Lâm. Lạc để làm kẹo là loại lạc được trồng ở vùng núi đồi xứ Đoài có vị thơm và béo. Lạc còn mới, được lựa chọn rất kỹ càng, để tránh những hạt thối, hạt mốc.

Nguyên liệu làm kẹo rất đơn giản, kẹo thường được làm từ mạch nha, đường và lạc nhưng cái khó lại nằm ở kì công của người làm ra nó. Làm kẹo đòi hỏi người làm trước hết phải có sức khỏe tốt, có thế mới giải quyết được khâu làm vỏ kẹo. Vì nấu mạch nha cho đến độ keo nhất định, không lỏng quá cũng không quá cứng để “đánh” kẹo thành công.

Với sức lực đôi tay quai búa của thợ rèn hay thợ đấu đắp đê quật mãi cho đến khi đường trắng ra và dẻo quẹo. Cả khối đường được dàn mỏng, càng mỏng càng tốt, rồi cho hỗn hợp nhân lạc đã nhào đường, mạch nha, va-ni trông óng màu mật ong vào giữa, cuốn tròn. Chờ nguội đủ độ, lấy dao cắt vát thành những khoanh kẹo như những miếng kẹo dồi, kẹo lạc, kẹo vừng.


Cũng như gia đình anh Cao Văn Hiền, hiện nay trên địa bàn xã Đường Lâm có khoảng 4 hộ sản xuất các sản phẩm như kẹo lạc, kẹo vừng, kẹo dồi với quy mô tương đối lớn để cung cấp cho thị trường.

Gói kẹo ngày nay có mẫu mã đẹp có hình biểu tượng cổng làng Đường Lâm. Kẹo lạc là món quà nhắc về quê hương, về nét văn hóa của người Việt, món quà ý nghĩa cho những vị khách phương xa lần đầu đặt chân đến làng cổ Đường Lâm. Người phương xa dễ nhận ra hương vị rất riêng của vùng đất cổ qua những món quà quê.

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018

Kiến trúc tinh tế hài hòa của chùa Cái Bầu

Sở hữu một cảnh đẹp đắm say lòng người gần với khu du lịch Bãi Dài nức tiếng xa gần thì Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm – Chùa Cái Bầu đã và đang dần trở thành một điểm du lịch tâm linh thu hút rất đông du khách tín ngưỡng đạo Phật mỗi khi về với đất Mỏ. Còn gì thú vị hơn một ngày gần nhất bạn được đến với Quảng Ninh để được thỏa mình trong cơn sóng biển và bình tâm khi đến với chùa Cái Bầu chứ? Hãy cùng tiếp nối cuộc hành trình khám phá du lịch chùa Cái Bầu ngay nhé!

Giới thiệu về Chùa Cái Bầu ( Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm)

Chùa Cái Bầu Quảng Ninh còn được gọi với cái tên khá mỹ miều và linh thiêng đó chính là Thiền Viện Trúc Lâm Giác Tâm. Ngôi chùa đã được khánh thành vào năm 2009, được đánh giá chính là một trong những địa điểm được rất nhiều người vãn cảnh và hòa mình vào không khí thiêng khi đến nơi đây.


Được tọa lạc trên Bãi Dài của Vân Đồn, chùa Cái Bầu Quảng Ninh luôn luôn là tâm điểm và cũng được nhiều người lựa chọn làm điểm đến cuối trong cuộc hành hương. Khi quý khách đã lên lịch trình của mình khi đi đến chùa Yên Tử, đền Cửa Ông thì cũng đừng quên địa điểm tâm linh cuối cùng  – Chùa Cái Bầu.

Thế đất của Chùa Cái Bầu thật đẹp. Khi phóng tầm mắt ra xa ta như nhìn thấy ở phía trước là vịnh Bái Tử Long rộng mênh mông, xanh thẳm. Thế rồi ngay ở phía sau là dãy núi xanh hoang sơ như sừng sững giữa đất trời. Ngôi chùa linh thiêng và sở hữu được cảnh đẹp hưu tình này dường như cũng chỉ cách Hạ Long vào khoảng 65km. Thời gian ước tính để du khách có thể di chuyển từ Hạ Long đến đây chỉ khoảng 1,5 tiếng.

Chùa Cái Bầu là một ngôi chùa đã được xây dựng trên nền chùa cổ mang tên Phúc Linh Tự – đã có mặt trên 700 năm nay. Theo những dấu ấn lịch sử, dân gian như đã kể lại đó chính là ngày xưa thờ các vị tướng nhà Trần trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ 13.

Kiến trúc của chùa Cái Bầu Quảng Ninh

Thật tuyệt vời biết bao nhiêu khi khuôn viên Thiền viện Trúc Giác Tâm được xây dựng chùa là một tiền lệ mà trước đây chưa hề có. Nếu như để ý một chút, bạn có thể thấy được rằng, chính trong khuôn viên của chùa gốm có thiền viện – Chánh điện cao 2 tầng rộng 6.000 m2 thoáng mát. Chú ý hơn nữa cũng chính cổng tam quan đồ sộ, nhà tổ, lầu chuông, thất ở hòa thượng, nhà khách chư tăng- chư ni, ngoài ra còn có cả thất đường trụ trì, thất chuyên tu, thiền đường, có cả nhà trưng bày trai đường và dựng 1 tượng Phật cao 50 m trên đỉnh núi sau Thiền Viện thật uy nghi.


Và cũng chính bởi đền được xây liền với chùa là điều chưa có nơi nào làm nên hiện nay cũng đã thu hút rất nhiều những nhà khảo cổ cũng như quảng đại quần chúng đến chiêm ngưỡng.

Chắc chắn rằng khi đến với ngôi chùa Cái Bầu thì du khách tour du xuân đầu năm 2019 sẽ không còn nhìn thấy các hoạt động bán hàng, cò mồi,… và đây thực sự là chốn bình yên cho du khách đến vãn cảnh.

Chùa Cái Bầu thơ mộng

Sở hữu một kiến trúc độc đáo, lại có địa thế đắc lợi nhìn ra vịnh Bái Tử Long xinh đẹp thì chùa Cái Bầu đã được người ta ví như một bức tranh sơn thủy hữu tình thật hài hòa. Không những thế mà ngôi chùa này cũng chính là nơi gìn giữ những chiến công hiển hách của quan đội nhà Trần trong trận chiến với quân Nguyên – Mông.


Mặc dù có diện tích không quá lớn nhưng chùa Cái Bầu Quảng Ninh lại là điểm đến được rất nhiều người hướng đến mỗi khi có dịp đến với vùng đất Mỏ – Quảng Ninh.

Hòa trong dòng người về đây lễ chùa đông đúc những có thể thấy được bạn cũng sẽ cảm nhận được sự lắng đọng, yên bình đến đắm say khi về chùa Cái Bầu Quảng Ninh.

Chắc chắn rằng, với sự yêu chiều của tạo hóa cũng đã làm cho chùa Cái Bầu được nổi danh về cảnh đẹp, người hành hương như cũng cảm giác thư thái trong tầm hồn. Nếu như một ngày có quá nhiều áp lực trong công việc, có quá nhiều nghĩ suy về cuộc sống thì bạn hãy bình tâm mà đến với chùa Cái Bầu Quảng Ninh để được trải lòng tâm sự với thiên nhiên. Trải lòng mình ra cũng tiếng chuông chùa nơi cửa phật. Tất cả sẽ như thôi thúc cũng như cũng sẽ cho bạn một điểm tựa tinh thần đó.

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

Sôi động lễ hội Đức thánh Quý Minh Đại Vương

Cứ vào ngày 18-3 âm lịch hàng năm, lễ hội truyền thống Đức thánh Quý Minh Đại Vương lại được tổ chức tại đền Trần (đền Nội Lâm, một trong tứ trấn của Kinh đô Hoa Lư và nằm trong Quần thể danh thắng Tràng An ngày nay).

Lễ hội Đức thánh Quý Minh Đại Vương là một trong những lễ hội truyền thống độc đáo của Ninh Bình, bởi nó diễn ra trong không gian của những thung nước trong xanh, những hang động lung linh kỳ ảo và giữa bốn bề núi non hùng vĩ…

Khung cảnh lễ hội

Đức thánh Quý Minh Đại Vương, theo truyền thuyết dân gian, là một trong ba anh em - ba vị tướng đã được phong Thánh (Đức thánh Tản Viên, Đức thánh Cao Sơn và Đức thánh Quý Minh), là người có công trấn ải Sơn Nam, bảo vệ đất nước thời vua Hùng Duệ Vương (tức Hùng Vương thứ 18). Ngài là một "thượng đẳng thần”, được các triều vua qua nhiều triều đại ban chiếu sắc phong, được nhân dân khắp nơi thờ phụng, trở thành Thành hoàng làng ở nhiều nơi. 


Đức thánh Quý Minh Đại Vương là một trong số rất nhiều những vị thần được thờ tụng theo tín ngưỡng dân gian. Suốt dọc chiều dài mảnh đất hình chữ S, nơi nào ta cũng thấy những ngôi đền, ngôi đình, ngôi phủ tôn thờ các vị thánh thần, thành hoàng được nhân dân ngưỡng vọng. Đó là một nét đẹp văn hóa, là đạo lý "Uống nước nhớ nguồn” trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Bởi những vị thánh thần đó, dù họ là những nhân vật có thật - những vị thần nhân, hoặc là những thiên thần, đều là những người có công lao trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Riêng ở Ninh Bình, Đức thánh được thờ tại đình làng Sinh Dược, xã Gia Sinh (Gia Viễn); ở núi Cánh Diều (thành phố Ninh Bình); ở núi Thiện Dưỡng, đền Kê Thượng, xã Ninh Vân (Hoa Lư) và ở đền Trần thuộc Khu du lịch tâm linh Tràng An – Bái Đính.

Vào ngày diễn ra lễ hội, ngay từ sáng sớm, hàng nghìn chiếc thuyền đã quy tụ lại bến Tam Quan để chuẩn bị cho một lễ hội hoành tráng với những nghi lễ rước nước, tế lễ và phóng sinh trên sông... Và như là quy luật của tạo hoá, tại những lễ hội cổ truyền gắn với đời sống tâm linh, tín ngưỡng dân gian, các hoạt động phần lễ bao giờ cũng mang nhiều yếu tố tâm linh và linh thiêng, đáp ứng nhu cầu của con người luôn hướng và tìm về nguồn cội, thể hiện rõ những ước muốn của con người thông qua các nghi lễ với đất trời, tổ tiên, với các thánh, thần để cầu mong một cuộc sống bình an, mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi…

Lễ rước nước

Đúng 9h sáng, Lễ hội truyền thống Đức thánh Quý Minh Đại Vương bắt đầu. Sau hồi trống khai hội trên bờ và màn đánh trống trên đò vang lên là lúc đoàn rước hơn 100 người khiêng kiệu và rước bài vị tế Đức thánh Quý Minh Đại Vương cùng hàng nghìn du khách tour du lich Bai Dinh Trang An 1 ngay trên khoảng 1.000 chiếc đò bắt đầu vào cuộc rước tạo nên một không khí lễ hội vừa trang nghiêm, vừa sôi động. Xuất phát từ bến đò, đoàn rước sẽ vượt qua 5km đường thủy, xuyên qua 11 hang động trên dòng sông Sào Khê. Sau chừng một tiếng diễu hành trên mặt nước, đoàn rước sẽ được chia làm hai, một nửa tiếp tục hành trình dưới sông, nửa còn lại lên bờ vượt qua 3 quả núi với chiều dài khoảng 3km để đến đền Nội Lâm cử hành các nghi thức tế lễ…


Trong suốt hành trình rước kiệu tiến về đền Trần để tham dự lễ hội, du khách được thả mình vào không gian thiên nhiên, chiêm ngưỡng khung cảnh nên thơ, trữ tình với những thung nước trong xanh, những hang động lấp lánh ánh nước, ánh nhũ, thư thái ngắm nhìn từng đàn cá bơi lội tung tăng dưới những dải rêu xanh, những thảm thực vật đa màu sắc và hoà cùng âm vang của tiếng mái chèo khua nhẹ trên sông. Qua những hang động, thung nước mênh mông xanh biếc, đoàn thuyền dừng lại ở bến đò đền Trần. Lúc này, du khách sẽ tiếp tục hành trình bằng hình thức leo núi để đến khu vực đền Trần. Đường núi dốc, hẹp, lại đông người nhưng du khách sẽ cảm thấy vô cùng sảng khoái, nhẹ nhõm bởi khung cảnh nên thơ, trữ tình của Tràng An.

Đền Trần nằm uy nghi trên ngọn núi cao - nơi tôn thờ Đức thánh Quý Minh Đại Vương - từ lâu đã trở thành ngôi đền nổi tiếng linh thiêng khắp xa gần. Đền được vua Đinh Tiên Hoàng xây dựng vào thế kỷ thứ X với mong muốn mượn uy danh của Thánh để trấn trạch theo 4 hướng Đông - Tây - Nam - Bắc. Ngôi đền cũ bằng gỗ do Đinh Tiên Hoàng đế xây dựng đã đổ nát và nhà Trần cho xây dựng lại bằng các cột đá rất nổi tiếng còn lại nguyên vẹn cho đến ngày nay và từ đó được nhân dân quen gọi là đền Trần vì được xây dựng lại từ thời nhà Trần. Đền Trần nằm giữa một vùng sơn thủy hữu tình thuộc Khu du lịch sinh thái Tràng An. Đền có 4 cột đá được trạm khắc bộ tứ linh (long, ly, quy, phượng) hết sức độc đáo.


Tham gia lễ hội Đức thánh Quý Minh Đại Vương, du khách du lịch Ninh Bình 1 ngày không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp độc đáo của Tràng An "Núi là thành, sông là đường, hang động là cung điện”, mà còn thấy hào hứng, thú vị bởi đường đi - lối về trong một hành trình tham gia lễ hội không hề lặp lại. Tất cả tạo cho du khách một nét tươi mới, khí thế, mê đắm như được lạc vào nơi “bồng lai tiên cảnh” để trân trọng, tự hào với quá khứ của cha ông và thêm yêu quý, giữ gìn những gì thiên nhiên ban tặng …

Những ai đã tham gia Lễ hội Đức thánh Quý Minh Đại Vương cũng như từng đến thăm Quần thể danh thắng Tràng An đều không thể quên một lễ hội truyền thống độc đáo, riêng biệt và không khỏi ngưỡng mộ trước vẻ đẹp kỳ bí của thiên nhiên đã ban tặng cho mảnh đất sinh vua sinh thánh này…

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Cột cờ Lũng Cú - Biểu tượng tràn đầy tự hào của Tổ Quốc

Trên bản đồ Việt Nam, Lũng Cú là một “chóp nón” đầy kiêu hãnh, là vùng đất mà người Việt nào cũng mơ ước được một lần đặt chân đến. Tọa lạc ở nơi cao nhất của “mỏm cực Bắc”, Cột cờ Lũng Cú - di tích lịch sử quốc gia đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền Tổ quốc Việt Nam.

Điểm đến hấp dẫn 

Trong những ngày tháng Tám lịch sử, chúng tôi đến Hà Giang, ghé thăm cột cờ Lũng Cú - điểm cao nhất của cực Bắc Việt Nam. Từ thành phố Hà Giang đến Đồng Văn, chúng tôi trải qua chặng đường gần 200 km đường núi, với những đoạn cua tay áo đến chóng mặt. Và rồi, sau hơn nửa ngày vật vã, chúng tôi cũng “bò” được lên đến địa phận xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, nơi có Di tích lịch sử quốc gia Cột cờ Lũng Cú.

Nhìn từ dưới lên, cột cờ Lũng Cú sừng sững trên đỉnh núi Rồng, lá cờ đỏ sao vàng tung bay phần phật trong gió đầy kiêu hãnh. Vừa là di tích lịch sử, vừa là điểm cực Bắc Tổ quốc linh thiêng, hùng vĩ, nên nhiều năm qua, di tích Cột cờ Lũng Cú luôn là một điểm đến yêu thích của hàng vạn du khách gần xa. 


Theo chân các du khách tour Hà Giang đến từ khắp mọi miền đất nước, chúng tôi lên thăm Cột cờ Lũng Cú - di tích lịch sử linh thiêng, hào hùng của dân tộc. Đường lên Cột cờ quốc gia Lũng Cú được xây dựng với tổng số 839 bậc thang, chia làm 3 chặng. Chặng đầu tiên 425 bậc, kéo dài từ chân núi lên vị trí nhà chờ. Chặng thứ 2 gồm 279 bậc, từ vị trí nhà chờ lên đến chân cột cờ và chặng thứ ba là 135 bậc nằm trong lòng cột cờ. 

Mỗi bước đi trên bậc thang dẫn lên đỉnh cột cờ, chúng tôi được trải qua những cung bậc cảm xúc khác nhau. Càng lên cao, cảnh đẹp của Lũng Cú càng trở nên huyền ảo. Từ trên cao nhìn xuống, du khách có thể thỏa thê ngắm nhìn núi non trùng điệp, hùng vĩ nơi địa đầu Tổ quốc, không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tựa như một bức tranh thủy mặc khổng lồ của vùng đất này. Xen lẫn cảnh đẹp kỳ vĩ ấy, là những nếp nhà trình tường, những mái ngói âm dương cổ kính bảng lảng làn khói lam chiều từ bản Lô Lô Chải, bản người dân tộc Mông dưới chân cột cờ, để rồi cảm nhận sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người nơi miền biên ải. 

Từ chân cột cờ, men theo những bậc thang hình xoắn ốc, để leo lên đỉnh cột cờ. Và rồi, cái cảm giác thoát ra từ không gian nhỏ hẹp, mờ tối để bước ra giữa khoảng trời bừng sáng, cao ngất trên đỉnh cực Bắc, được ngắm nhìn lá cờ linh thiêng tung bay phần phật, kiêu hãnh trong nắng, gió vùng biên ải, được chạm tay vào lá cờ đỏ thắm khiến chúng tôi tràn ngập xúc động và cũng rất đỗi tự hào. 

Anh Đoàn Như, một du khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ: “Trải nghiệm cảm giác khi đến thăm Cột cờ Lũng Cú, nơi cực Bắc Tổ quốc là niềm vinh dự đối với bất kỳ công dân Việt Nam nào và với tôi cũng không ngoại lệ. Đây là lần đầu tiên tôi đến Lũng Cú, được chạm tay vào và tận hưởng cảm giác mềm mại từ lá cờ thiêng liêng, cảm xúc thật khó tả. Tôi vô cùng tự hào vì mình đã được đến đây”. Và, chắc hẳn, đây cũng là cảm giác của rất nhiều du khách khi đến đây. 

Linh thiêng Cột cờ Lũng Cú

Những ai đặt chân đến Cột cờ Lũng Cú, chắc hẳn sẽ không quên được câu chuyện nhuốm màu huyền thoại về đỉnh Lũng Cú, mà cô thuyết minh viên duyên dáng vẫn thường kể mỗi khi có du khách đến thăm. Chuyện kể rằng, Lũng Cú là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc, trong đó nhiều nhất là đồng bào Mông và Lô Lô.


Lũng Cú có nhiều tên gọi, theo cách gọi dân dã, mộc mạc của đồng bào dân tộc Mông, thì Lũng Cú là Lũng ngô (vì theo tiếng Mông, cú có nghĩa là ngô). Còn đồng bào dân tộc Lô Lô thì gọi Lũng Cú là Long Cư - nơi rồng ở theo phiên âm tiếng Hán. Tương truyền rằng, khi xưa, rồng tiên xuống trần gian du ngoạn, yêu mến cảnh sắc tuyệt vời ở nơi đây, mà đậu xuống ngọn núi trước làng, chính là ngọn núi Rồng ngày nay. 

Yêu mến mảnh đất này, nhưng rồng tiên cũng nhận thấy cuộc sống của người dân nơi đây vô cùng cực khổ, thiếu nước sinh hoạt trầm trọng, nên trước khi về trời, rồng tiên động lòng trắc ẩn, đã để hai con mắt của rồng tại nơi này. Và hai mắt rồng đã hóa thành hai hồ nước ngọt ở hai bên chân núi. Một hồ nước của làng Thèn Pả (thuộc làng dân tộc Mông) và một hồ nước của làng dân tộc Lô Lô. 

Nhờ có 2 hồ nước ngọt này mà cuộc sống của người dân nơi đây đã bớt phần vất vả. Điều kỳ diệu là, dù thời tiết có khô hạn thế nào, nước ở hai hồ này không bao giờ cạn. Xưa kia, người dân trong làng vẫn sử dụng nước ở hai hồ để ăn uống và sinh hoạt. Nhưng ngày nay, nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã xây dựng cho các hộ gia đình những bể chứa nước mưa tại nhà, chính vì vậy, người dân không sử dụng nước ở hồ để sinh hoạt nữa, mà chỉ sử dụng để tưới tiêu phục vụ mùa màng. 

Cùng với truyền thuyết về núi Rồng của cô hướng dẫn viên, du khách du lịch Ha Giang 3 ngay 2 dem còn được nghe câu chuyện lịch sử đầy oai hùng về Cột cờ Lũng Cú từ một cán bộ của Đồn Biên phòng Lũng Cú. Theo Thượng tá Phạm Ngọc Thủy, Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên - Đồn Biên phòng Lũng Cú, sử sách ghi lại, di tích Cột cờ Lũng Cú ra đời từ thời Lý. Khi xưa, Thái úy Lý Thường Kiệt hội quân về trấn ải vùng đất biên thùy, đã cho cắm một lá cờ trên đỉnh núi Rồng, để khẳng định chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta. Nhờ cột cờ này, mà suốt chiều dài lịch sử, mảnh đất biên ải nơi cực Bắc được tồn tại đến hôm nay. 

Đến thời Tây Sơn, khi vua Quang Trung đánh tan quân xâm lược, đã nhận ra tầm quan trọng của vùng đất biên ải này và đã cho xây dựng một đồn gác nơi đây, dưới đồn gác cho đặt một trống đồng, mỗi một canh được đánh lên ba hồi đĩnh đạc, vang xa để khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Cũng vì lẽ đó, mà mảnh đất này còn có tên gọi là Long Cổ (tức trống của vua). Đến năm 1978, Đồn Công an nhân dân vũ trang Lũng Cú (nay là Đồn Biên phòng Lũng Cú) cho cắm cột cờ tại đỉnh núi Rồng tại vị trí bây giờ. Lúc đó cột cờ chỉ bằng cây sa mộc, cao 12 m, lá cờ rộng 1,2 m2. Năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, đỉnh núi Rồng được lực lượng Công an nhân dân vũ trang Lũng Cú đóng chốt ở đó để bảo vệ núi Rồng. 

Đến năm 2000, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Giang, đã cho phép huyện Đồng Văn xây dựng công trình mang tầm cỡ quốc gia, và cột cờ bằng bê tông cốt thép được xây dựng, thay cho cột cờ bằng gỗ lúc bấy giờ. Để phù hợp với cột cờ to và bề thế, thì lá cờ rộng 54 m2 được ra đời từ đó. Với những giá trị lịch sử sâu sắc, ngày 18/11/2009, Nhà nước đã công nhận Cột cờ Lũng Cú là Di tích lịch sử quốc gia. 

Năm 2010, khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lên thăm Cột cờ Lũng Cú, đã đồng ý cho phép Hà Giang xây dựng cột cờ mới to đẹp hơn, bề thế hơn để khẳng định vị thế của đất nước ta trong công cuộc đổi mới, và khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc. 


Cột cờ Lũng Cú hiện nay được khởi công ngày 8-3-2010, hoàn thành vào đúng ngày Quốc khánh, ngày 2-9-2010. Cột cờ tọa lạc trên đỉnh núi Rồng, có độ cao 1.468 m so với mặt nước biển. Tổng chiều cao gần 35m, lá cờ rộng 54 m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam. 

Dưới chân cột cờ có 8 bức phù điêu bằng đá xanh, trên 8 bức phù điêu là những hình ảnh minh họa quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta, đan xen vào đó là các nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc ở Hà Giang. Phía trên 8 bức phù điêu có gắn 8 mặt trống đồng, vừa là biểu trưng của văn hóa Việt Nam, vừa để nhớ đến tiếng trống của vua Quang Trung khi xưa, để con cháu ngàn đời sau nhớ đến công dựng nước của ông cha ta ngày trước. 

Thượng tá Phạm Ngọc Thủy cho biết, trong suốt những năm tháng chiến tranh và đến mãi sau này, nhiệm vụ bảo vệ lá cờ Tổ quốc trên đỉnh Lũng Cú được giao cho cán bộ chiến sỹ Đồn Biên phòng Lũng Cú. Khi lá cờ bạc màu hoặc bị rách, các chiến sỹ thay thế bằng một lá cờ mới. Những hôm gió quẩn, lá cờ cuốn vào thân cột, anh em chiến sỹ phải trèo lên gỡ lá cờ ra, để lá cờ tiếp tục tung bay kiêu hãnh. 

“Những lá cờ Tổ quốc trên Cột cờ Lũng Cú, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đã phai màu vì nắng mưa hay bị rách vì mưa gió được đơn vị giữ lại, và làm quà tặng cho những đoàn khách đặc biệt đến thăm Lũng Cú. Đến nay, lá cờ Tổ quốc trên đỉnh Lũng Cú đã trở thành một kỷ vật thiêng liêng, mà rất nhiều đoàn công tác mong muốn có được”, Thượng tá Phạm Ngọc Thủy cho biết.

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

Vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú của núi Cấm Sơn

Với vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú, lại nằm ngay thành phố Hà Giang, núi Cấm Sơn mọc lên như một kỳ quan hùng vĩ, hút bao ánh nhìn đến đây.

Hà Giang được biết đến là điểm du lịch thu hút khách nhất hiện nay. Nơi đây không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng, khí hậu trong lành mà còn nổi tiếng với những kỳ quan thiên nhiên đẹp. Đặc biệt, khi đến với thành phố Hà Giang du khách du lịch Đồng Văn Mèo Vạc không thể bỏ qua sức hấp dẫn của núi Cấm Sơn điểm đến du lịch đầy mê hoặc.


Núi Cấm Sơn được chia thành 2 phần địa hình khá riêng biệt nhưng chúng lại hỗ trợ nhau làm nên vẻ đẹp của nơi này. Từ trên đỉnh núi theo hướng dốc Mã Tim chủ yếu là địa hình hang sâu vách đá dựng đứng hiểm trở, những vách đá nối tiếp nhau. Ngược lại phía từ đỉnh núi trải dài về phía sông Lô là núi đất, sườn núi vách dốc chạy suốt từ đường 19/5 đến quảng trường 26/3. Nếu như ở 2 bên đỉnh núi kéo xuống là địa hình núi đá thì phía chân núi là những phố phường đông đúc dân cư, làm ăn sầm uất.

Đường lên đỉnh Cấm Sơn chỉ duy nhất một đường độc đáo tạo nên cho Cấm Sơn nhiều điều huyến bí khiến người ta muốn khám phá ngay lập tức. Men theo con đường độc đạo đầy hiểm trở sẽ đến một cái hang sâu thẳm, thẳng đứng được gọi là “giếng trời”. 

Núi Cấm huyền bí gắn với một cầu chuyện giàu lòng vị tha và tính nhân văn cao cả. Nơi đây tương truyền có đội quân “cờ đen” của Lưu Vĩnh Phúc, khoảng những năm 1870 – 1875, địa hạt Hà Giang có đội quân “cờ vàng” của Hoàng Sùng Anh kéo đến để cướp bóc, chúng bị đội quân của đồng bào các dân tộc là “Quân cờ trắng” đánh trả quyết liệt, bao vây truy kích, năm 1875, quân “Cờ vàng” của Hoàng Sùng Anh bị co cụm, đội quân của mình lên núi Cấm để cố thủ, lương thực cạn kiệt dần, xung quanh núi Cấm lại bị bao vây chặt, biết không thể thoát, cả tướng lẫn quân “Cờ vàng” đã nhảy xuống hang sâu trên núi tự vẫn. Với tấm lòng bao dung và nhân hậu người dân nơi đây đã lập miếu thờ nhỏ cầu nguyện cho những linh hồn oan khuất nơi chín suối. Kể từ đó, núi Cấm trở nên huyền bí và linh thiêng hơn. Tuy nhiên, sau bao năm tháng thằng trầm, đền thờ trên núi Cấm đã được đưa về thờ tại “Cấm Sơn Linh Từ” dịch là ngôi đền núi Cấm (nay là đền Mẫu). Trên đỉnh núi hiện vẫn còn vết tích của những hang đá sâu, hệ thống hầm hào, lô cốt từ thời thuộc Pháp.


Trong những năm gần đây, với chủ trương khai thác tiềm năng của núi Cấm phục vụ cho việc phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội. Núi cấm đã được đầu tư xây dựng tháp truyền hình lớn của tỉnh, và một số thiết chế văn hóa du lịch. Từ dưới chân núi (cầu Yên Biên II), du khách có thể đi lên núi bằng xe máy, ô tô đến lưng chừng núi, tiếp tục đi bộ theo con đường bậc thang đổ bê tông ngoằn nghèo cạnh sườn núi, luồn lách qua những kẽ đá tai mèo dựng đứng, bên là vực sâu thăm thẳm với những dây song mây rậm rạp đưa ta trở về ngược dòng thời gian, tìm thấy những dấu ấn lịch sử của “Cấm sơn”.

Từ trên đỉnh núi, du khách tour du lịch Hà Giang có thể nhìn thấy toàn bộ phong cảnh thành phố Hà Giang thơ mộng. Năm ngả đường đổ về thành phố, hoà quyện cùng với hai dòng hợp lưu của sông Lô và sông Miện trong xanh chảy giữa lòng thành phố, xung quanh thành phố là những dãy núi thế Rồng chầu Hổ phục, bao quanh những công viên cây xanh và những khu đô thị sầm uất, thể hiện sự bền bỉ và trường tồn của một thành phố đầy tiềm năng du lịch.

Hiện nay, núi Cấm Sơn ở Hà Giang đã trở thành điểm đến du lịch đầy hấp dẫn đối với những du khách muốn khám phá nhiều điều thú vị và chinh phục sự huyền bí nhất trên đỉnh Cấm Sơn. Nếu có dịp đến với mãnh đất Hà Giang đầy hùng vĩ du khách đừng quên bỏ qua cơ hội chinh phục đỉnh núi Cấm đầy huyền bí vô cùng thú vị này.