Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Mắm chượp - Đặc sản danh tiếng Cù Lao Chàm

Ở vùng đảo Cù Lao Chàm ngoài các đặc sản nổi tiếng như là Yến sào, cua đá, cá tươi…hiện nay xuất hiện một đặc sản mới được chế biến từ nguyên liệu tươi nguyên của biển đó là : Nước mắm chượp cá cơm.

Nước mắm chượp cá cơm nếu được sử dụng làm dưa món hay làm nước chấm của bánh tét, bánh chưng trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộc thì thật là tuyệt.

 

Đọc thêm: Du lịch Mai Châu

Đặc sản mới nầy được Khu bảo tồn biển hướng dẫn phụ nữ địa phương sản xuất chế biến theo theo qui trình mới, đảm bảo yếu tố kỹ thuật, chất lượng cao, bảo quản tốt và đưa ra chào hàng phục vụ du khách tại nhiều điểm  trong mùa lễ hội “Quảng Nam – hành trình di sản văn hoá lần thứ 3 năm 2007”.

 Thực ra, nghề nước mắm ở Cù lao Chàm đã có từ lâu đời, được bà con ngư dân sản xuất theo qui trình truyền thống, chỉ đủ tiêu dùng cho gia đình hoặc buôn bán tại chỗ và đã đúc kết qua câu: “Làm nước mắm một vốn bốn lời”.

Việc phụ nữ Cù Lao làm nước mắm chượp cá cơm là đã xây dựng được một sản phẩm  hàng hoá đặc trưng, tạo thêm một sản phẩm du lịch cho biển đảo; mà quan trọng hơn là đã hình thành một nhóm hạt nhân trong quá trình xây dựng và phát triển sinh kế bền vững trên vùng đảo thân yêu, quí giá nầy.

 


Qua hơn một năm tổ chức sản xuất, hội thảo về qui trình làm nước mắm chượp cá cơm, những phụ nữ Cù Lao rút ra những điểm cốt lõi, mấu chốt để tạo nước mắm thành phẩm đạt yêu cầu thơm ngon: Trước tiên, cá phải tươi, đủ số lượng dự tính , tránh bổ sung về sau. Dùng cá cơm than chế biến nước mắm thơm ngon hơn cá cơm trắng hay các lọai các khác. Nguồn muối dự trữ  trong thời  gian từ 4 đến 6 tháng để các tạp chất gây chát trong muối chảy ra ngoài. Giai đoạn đầu ủ mắm do quá trình lên men mắm phát sinh nhiều muồi; vì vậy, mắm mới làm phải thường xuyên chăm sóc phơi nắng. Khi mắm chín thì phơi ít hơn, hạn chế khuấy trộn và đậy thật kỹ. Nếu không làm tốt khâu nầy  thì khi mắm chín có màu đen, ăn vào thấy vị chát, ít thơm. Đặc biệt khi mắm đã thành phẩm cần được bảo ôn từ 10 đến 20 ngày để kiểm tra lại chất lượng mắm trước khi sử dụng và bày bán.

Đọc tiếp: Tour Hà Giang

Với công thức chế biến 3 cá - 1 muối, nghĩa là muốn muối 100kg chượp phải sử dụng 75 kg cá và 25 kg muối. Sau thời gian 6 tháng sẽ cho 30 lít mắm nguyên chất ( hay còn gọi là mắm cốt) trị giá mỗi lít 15.000 đồng ( gía cách đây 6 tháng ). Mắm chượp cá cơm có thể dùng các lọai chum sành, hủ xi măng để làm nhưng nếu được  làm bằng thùng gỗ thì mắm  thơm ngon hơn hẳn.

Nước mắm chượp cá cơm đang được mở rộng chế biến, đáp ứng đặc sản mới cho du khách khi đến tham quan mua sắm nơi biển  đảo nầy.

Đến bây giờ có thể ghi nhận chất lượng mắm chượp cá cơm chinh phục được người tiêu dùng. Song để có mẫu mã đẹp, một thương hiệu riêng cho sản phẩm đặc trưng của biển đảo Cù Lao Chàm rất cần được sự quan tâm của các ngành chức ngay từ bây giờ

Những món ngon nức tiếng của cù lao Tân Lộc



Tân Lộc (Thốt Nốt, TP. Cần Thơ) là một cù lao giữa sông Hậu có nhiều vườn cây (đu đủ, sa pô, mít Mã Lai, dừa) trĩu trái nên thu hút khá nhiều khách tham quan. Đặc biệt dịp Tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch), hàng chục ngàn người từ Long Xuyên (An Giang) xuống, trung tâm TP. Cần Thơ lên, Lai Vung (Đồng Tháp) qua, khiến cù lao này trở thành vùng quê náo nhiệt, vui tươi. Ngày hội này còn diễn ra vào mồng hai Tết Nguyên đán hằng năm.



Là “cù lao cá” nên Tân Lộc quanh năm đều có món ngon từ các “danh ngư”: Từ mồng 5 tháng 5 tới tháng 9 âm lịch là mùa đánh bắt cá sữu, loại cá này, con nhỏ nhất là 300g, lớn nặng 4kg. Người ta “bắt lưới” khi con nước đục (mùa nước đổ từ thượng nguồn sông Hậu về, còn gọi mùa nước son). Nước trong thì câu cá bằng mồi kiến non, gián, thuốc ủ. Từ rằm tháng 10 âm lịch, nước giựt, khai thác cá linh bằng chài, lưới và vó. Đặc biệt là cách dùng lưới giựt giúp ngư dân thu hoạch cá “bể tay”, có khi được 20 giạ cá/lần giựt (13kg/giạ), thậm chí đạt 40 giạ cá một lần giựt. Đó là chuyện trước đây, còn bây giờ cá cũng có nhiều nhưng chẳng bằng. Mùa thu hoạch cá linh dần thưa và chấm dứt sau 30 ngày.

Từ tháng 11 âm lịch, đến sau Tết Nguyên đán là mùa “săn” cá bông lau. Địa phương có phường chài, phân chia khu vực đánh bắt. Mỗi ghe có hai người, thường là vợ chồng, một người chèo, một người phơi (thả lưới). Nước dâng bắt đầu đánh. Trước khi nước rút, khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, thì kéo. Mỗi đợt kéo người ta thu hoạch trung bình chừng 4-5 con. Cá ở đây có con nặng tới 10kg. Để thu hoạch được nhiều cá, ngư dân nhìn dòng nước phán đoán “ổ cá” nằm ở nơi nào, thường là nơi ngã ba khúc sông nước chảy mạnh.

Đánh bắt cá sữu và cá linh diễn ra vào ban ngày. Riêng cá bông lau thì ngư dân hoạt động suốt đêm. Hàng trăm ghe đánh cá cùng hàng bao nhiêu ngọn đèn phao thả đầy khúc sông như một trời sao sa đọng lại, lấp lánh, đẹp mê hồn! Tất cả đều diễn ra nơi khúc Bắc sông Hậu nhánh Lai Vung. Chứng kiến cảnh “dọc ngang sông nước” của các con “kình ngư biết nói” vào ban ngày hoặc ban đêm đều là kỷ niệm nhớ đời của khách phương xa.



Cá sữu, đặc sản Tân Lộc chế biến thành nhiều món ăn: nướng, chiên, hấp gừng, muối sả ớt, chiên xù, kho, nấu canh chua... đều sự “khoái khẩu”. Mùa cá linh bạn sẽ được “nếm” cá linh chiên, kho lạt, kho me, nấu chua so đũa đầu mùa... Mùa cá bông lau thì cũng ngần ấy món nhưng cũng khiến bạn mê mẩn vì cái ngon của loài cá được mệnh danh là “thủy sâm”! Các món cá nước ngọt được quán Thiên Phúc (ấp Phước Lộc) phục vụ quanh năm, giá cả phải chăng, chừng 30.000-40.000 đồng/món. Riêng cá sữu đã chế biến giá 130.000 đồng/kg.

Du lịch ẩm thực miệt vườn Sơn Ca (ấp Tân Mỹ) trên cù lao có những món ăn “lạ”: gỏi bò ba khía, 40.000 đồng; gà ta xào lăn giả cầy, 50.000 đồng; cá hú nấu chua, 60.000 đồng...; đặc biệt là món gà hấp lá trúc, bán theo thời giá; tôm nướng lá trúc cay, 40.000 đồng. Lá trúc mùi vị giống lá chanh nhưng dầy và sậm màu hơn, là đặc sản vùng núi Ba Chúc (An Giang). Trái trúc được nhân dân Bảy Núi sử dụng nhiều nhất trong việc lấy chất chua thay nước cốt chanh tươi cho món cháo bò Tri Tôn nổi tiếng. Từ nhiều năm qua, loại cây này đã có mặt ở Thốt Nốt đi vào ẩm thực.

Bí mật làm nên chiếc bánh gio làng Tây Đình thơm ngon


Bánh gio Tây Đình (Bình Xuyên) - còn gọi là bánh nắng - ngon có tiếng, hơn hẳn các nơi khác về cả màu sắc và hương vị. Bí mật làm nên tấm bánh gio ở Tây Đình nằm trong khâu chọn nguyên liệu, cách ngâm gạo và thời điểm gói bánh, luộc bánh. 

Dân làng Tây Đình, xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên mỗi năm được ăn hai cái Tết lớn: Tết Nguyên đán và Tết 12 tháng tám âm lịch, thường gọi là Tiệc làng. Những ngày này, ngoài cỗ bàn thịnh soạn, mọi nhà còn làm ra nhiều thứ bánh, trong đó bánh chưng vuông và bánh nắng dài là hai thứ bánh không thể thiếu trên các bàn thờ. Bởi ngoài tính âm dương giao hòa, hai loại bánh này còn mang ý nghĩa phồn thực.

Đọc tiếp: Du lịch Sapa giá rẻ

Bánh nắng, ở đây gọi là bánh gio Tây Đình ngon có tiếng và hầu như các bà, các chị ở làng ai cũng biết làm bởi nguyên liệu luôn có sẵn tại vườn nhà. Bụi lá chít ở góc vườn, cây gai sương song ngoài bờ rào, tầm gửi cây dọc trên gò cao... Bí mật làm nên tấm bánh gio ở Tây Đình nằm trong khâu chọn nguyên liệu, cách ngâm gạo và thời điểm gói bánh, luộc bánh...

Gạo nếp thật ngon đem sàng sảy kỹ, chọn bỏ các hạt xấu và gạo tẻ lẫn vào. Vo gạo thật kỹ, thay nước nhiều lần, bao giờ thấy nước gạo thật trong mới thôi. Để gạo thật ráo nước rồi đem ngâm vào nước vôi trong chừng 2 giờ đồng hồ. Lại vớt ra đợi hạt gạo thật khô tơi mới đem ngâm vào nước nắng qua một đêm.

Cách làm nước gio ở đây cũng giống như các nơi khác nhưng nguyên liệu chỉ dùng gio than của ba loại cây: tầm gửi cây dọc, thân lá cây vừng khô và thân cây sương song (cây gai nhể ốc).


Lá chít đem luộc thật kỹ và thay nước nhiều lần cho phai hết chất diệp lục. Mỗi chiếc bánh gio chỉ cần dùng 2 hoặc 3 chiếc lá chít. Gạo nếp đã ngâm nước nắng lên màu hổ phách được vớt lên cho ráo nước. Dùng muôi xúc gạo đó cho vào giữa lá chít đã rửa sạch lau khô, dàn gạo đều và dài ra, gói lại lăn tròn vấn bẻ hai đầu lá kín lại dùng lạt mềm buộc chặt. Mỗi cái bánh gio chỉ dài chừng hơn gang tay đường kính nhỉnh hơn ruột quả chuối tiêu nên chỉ cần luộc ba giờ đồng hồ bánh đã rền. Bánh để nguội bóc cắt ra từng khoanh, nhìn thấu qua trong suốt màu sáp ong đã thấy ngon, đem chấm cùng mật giọt càng hấp dẫn.

Đọc tiếp: Tour Hà Giang

Trong quá trình làm bánh gio, việc kiêng kỵ nhất là tất cả từ nguyên liệu đến dụng cụ đều không để dính chút dầu mỡ nào. Vì vậy bánh gio ở đây thường được làm xong từ trước lễ tết vài ba ngày, trước khi mổ lợn, mổ gà... Chỉ bị dính "tí" dầu mỡ là ruột bánh sẽ không rền và liên kết để tạo nên độ dai và các hạt gạo sẽ không trong suốt nên chất lượng bánh giảm hẳn.

Người Tây Đình ít ai làm bánh gio đem bán mà chỉ làm để ăn Tết và biếu tặng họ hàng, bè bạn. Ai đã được ăn bánh gio Tây Đình đều nhớ mãi vì ngon hơn hẳn bánh ở các nơi về cả màu sắc và hương vị.

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Mang cá thiều - Món ăn giản dị của đất Quảng Bình


Tục ngữ Đồng Hới có câu: "Nghéo gan, mang thiều" nghĩa là cá nghéo có gan là béo, cá thiều có mang là ngon nhất. Lại có câu ’’Chuồng, cúng (tức cá thiều) tháng ba, thu đa tháng bảy",cũng có nghĩa là mùa tháng 3 âm lịch thì cá chuồng, cá thiều (còn gọi là cá cúng) là ngon nhất, tháng 7 thì cá thu đa, tức cá thu trơn da, không có vảy ở gần cuối đuôi là ngon nhất.


Đọc tiếp: Tour du lich Ha Giang

Mỗi khi mà nhân dân đã đúc kết một việc gì thành ca dao tục ngữ, thành ngữ, nhất định là đã kinh qua nhiều kinh nghiệm thực tế lâu đời. Những câu tục ngữ, thành ngữ trên đây ắt cũng vậy. Tuy nhiên, nếu nói đầu cá hay gan cá gì đó là ngon, là béo thì dễ tin được, nhưng nói đến mang cá mà ngon, chắc chắn không ai nghe được. Không những không tin mà còn rùng mình nữa, bởi nói đến mang cá là người ta tưởng tượng đến cái tanh tao, ruồi nhặng bu đầy rồi, dù ai đói nghèo mấy cũng chẳng ai "tận dụng’’.

Thế mà, người nghèo Đồng Hới đã đưa vị trí cái mang con cá thiều lên bậc nhất, bậc nhì, trong hàng ngũ loài cá biển của quê hương mình, đặc biệt là cá thiều tháng ba thì cái mang lại càng quý.

Đọc tiếp: Du lịch Mai Châu

Có khi nào chúng ta đi xem chợ Đồng Hới, hãy chịu khó rẽ vào hàng cá, quan sát những người mổ cá thuê, nếu mổ cá gì thì họ vất mang đi, duy chỉ cá thiều là họ cho ngay mang vào rổ riêng của họ, cất kỹ. Dĩ nhiên, khách hàng thuê mổ cá của họ cũng chẳng ai để ý gì đối với một cái mang cá, lấy hay bỏ, can hệ gì đến ai!


Thế đấy! Người nghèo ở chợ Đồng Hới, tự tay họ làm ra bao nhiêu thứ cá, mổ xẻ bao nhiêu loại hải sản mà họ không quý gì hơn bộ mang cá thiều.

Nấu món ăn của mang cá thiều rất đơn giản, rất rẻ tiền, gần như không tốn kém gì mấy, cũng chẳng phải đòi hỏi gia công gia chánh gì bao nhiêu, người tầm thường về ’’bếp núc’’ nào cũng làm được: chặt mang cá ra miếng nhỏ vừa phải, rửa rạch, vớt lên rá! Một nắm măng chua, một thìa mỡ, một ít gia vị. Thế rồi cứ theo thứ tự của người làm bếp, cho mỡ vào chảo, mỡ sôi thì khử hành, cho măng chua xào lăn, đến lượt cho mang cá vào xào chung với măng xong, cho muối mắm vừa phải, và cuối cùng thì ghé nước sôi vào thành một chảo canh ngon lành. Canh chín, thêm gia vị tùy ý. Cũng có người nấu theo lối cho nước sôi vào trước khi cho mang cá, đợi nước sôi đã, mới thả cá vào nấu chín.

Đọc tiếp: Tour du lịch Sapa

Một món ăn đơn giản, rẻ tiền, nhưng nếu bạn có lần thưởng thức qua, bạn sẽ thấy mang cá thiều ăn giòn tan, không còn bả, vừa thơm vừa béo, không hề tanh, đến mức người ít ăn cay, không cần tiêu ớt cũng chẳng bao giờ nghe màu mè gì đáng ngại, ngoài mùi thơm béo đặc biệt của nó.

Cá thiều tháng ba ở Đồng Hới, con càng to, thịt càng béo và mang càng ngon! Nếu gặp cả bộ trứng cá thiều, nấu canh cùng mang cá thiều lại càng mỹ vị!

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2016

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ của thác Pác Hảu


Thác Pác Hảu thuộc xã Sơn Phú (Nà Hang), cách trung tâm thị trấn chưa đầy chục cây số. Nhiều người ưa khám phá đã biết đến Pác Hảu như một điểm du lịch sinh thái lý tưởng, là địa điểm để thư giãn trong những ngày hè nóng bức.

Thác Pác Hảu (theo tiếng địa phương là thác quả bứa) gồm 5 tầng, mỗi tầng đều ẩn chứa trong nó một vẻ đẹp riêng để khám phá. Theo lời của các hướng dẫn viên thuộc Ban quản lý du lịch sinh thái Nà Hang thì hầu như rất ít người đã leo được tới cùng của con thác do mùa hè nước chảy rất mạnh, lại không có nhiều phương tiện hỗ trợ.


Đọc tiếp: Du lich Phu Quoc gia re

Vì sao con thác có tên thác quả bứa? Nhiều người địa phương giải thích, vì trước hết đường lên thác có rất nhiều cây bứa, (một loại cây cho trái thường được người dân đem về nấu canh chua). Mặt khác, đồng bào dân tộc thiểu số ở đây thường đặt tên các con thác, ngọn núi dựa vào những đặc điểm chính dễ nhận biết nhất, nên các tên gọi thường ngắn gọn và đơn giản. Nằm ngay trên tuyến đường từ thị trấn đến xã Sơn Phú, thác Pác Hảu vào mùa hè như một lời mời gọi hấp dẫn khiến khách đi đường không thể không dừng bước nghỉ ngơi, ngắm cảnh. Rất nhiều du khách bất ngờ khi ngay trên đường vẫn có thể ngắm cảnh, chụp ảnh với con thác này ngay trên cầu Pác Hảu. Chị Vũ Minh Châu, một du khách đến từ Hà Nội không ngớt lời trầm trồ khi được nhìn ngọn thác sừng sững đổ ào từ trên cao xuống như một dải lụa mềm mại, hấp dẫn. Với những du khách từ phương xa như chị Châu, thác Pác Hảu là một ẩn số, luôn đòi hỏi được tìm ra đáp án.


Với những du khách ưa thích các địa điểm du lịch khám phá thì Pác Hảu là một gợi ý lý tưởng. Chưa chịu bất cứ một tác động nào từ con người, thác Pác Hảu lôi cuốn mọi người bởi chính vẻ hoang sơ của nó. Để lên được đến tầng trên cùng, đòi hỏi những người đến khám phá phải có bản lĩnh, vì ngoài dây rừng, không có bất cứ một phương tiện phụ trợ nào giúp họ. Thêm vào đó, thời gian trước đây những người dân địa phương đến đây khai thác vàng đã để lại một hệ thống hang động nhân tạo nhưng khá kiên cố, đẹp mắt. Thời gian tới, Ban quản lý du lịch sinh thái Nà Hang sẽ khảo sát thêm các hang nằm sâu trong khu vực thác và xây dựng kế hoạch đưa vào chương trình tham quan cho du khách như một điểm du lịch khám phá, để du khách có thể tự tìm hiểu, tự khám phá thêm vẻ đẹp của nó.


Với những lợi thế, Pác Hảu hứa hẹn sẽ là một điểm du lịch hấp dẫn du khách tham quan khi có dịp đặt chân tới đây.

Bích Đào tiên động - điểm du lịch hấp dẫn của xứ Thanh


Động Từ Thức còn có tên gọi khác là động Bích Đào, nằm trên địa bàn xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Động gắn liền với truyền thuyết Từ Thức gặp tiên.

Đọc tiếp: Tour du lịch Cát Bà

Chuyện kể rằng: Một hôm, quan tri huyện họ Từ, tên Thức đang vãn cảnh chùa, ngắm hoa mẫu đơn nở, nhìn thấy một cô gái bị người trông hoa bắt giữ. Hỏi ra mới hay, người con gái nọ tên là Giáng Hương, cũng đi ngắm hoa mẫu đơn nở, sơ ý làm gãy một cành hoa của nhà chùa. Động lòng, Từ Thức lấy áo chuộc tội cho nàng. Kể từ đó, chàng đem lòng thương nhớ Giáng Hương, chỗ nào có phong cảnh đẹp, thì tìm đến, hy vọng được gặp người con gái hôm nào. Thời gian đằng đẵng trôi qua, mà nàng vẫn như bóng chim tăm cá. Một hôm, chàng đi lang thang vào trong núi. Thấy một hang động, chàng men theo mãi, theo mãi đến động Bích Đào. Ở đó, Từ Thức gặp được nàng Giáng Hương thuở nào. Hai người nên duyên vợ chồng.


Giáng Hương vốn là tiên nữ. Một hôm nàng đi chầu Thánh Mẫu, Từ Thức ở nhà một mình, ra cửa động nhìn thấy trần gian và nhớ nhung khôn xiết. Khi Giáng Hương trở về, Từ Thức ngỏ ý muốn về thăm quê cũ. Lòng chàng đã quyết, Giáng Hương không thể giữ được chân chàng.

Từ Thức trở về trần gian, mới hay mình đã xa quê quá lâu rồi, không ai còn nhận ra nữa. Lòng chàng buồn tủi. Chàng tìm đường về động Bích Đào với Giáng Hương nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy đường về động.


Động Từ Thức trở thành một trong những thắng cảnh nổi tiếng ở xứ Thanh. Đã có nhiều tao nhân mặc khách để lại những vần thơ bất hủ ghi lại cảm xúc khi tận mắt thấy vẻ đẹp thiên phú nơi đây. Có dịp về thăm động Từ Thức, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những hình thù kỳ dị, mà dân gian đặt tên là kho vàng, kho vải, kho muối, hội tiên... như đưa ta vào thế giới thần tiên.

Khám phá truyền thuyết Núi Sam


Trên con đường trải rộng cách thị xã An Giang chừng 60 km về hướng Tây, một buổi chiều nắng êm ả, tết Đoan Ngọ, tôi trở lại núi Sam. Những hàng sứ trắng đầu xuân đã nhường chỗ cho phượng vĩ tràn cả lối đi. Núi Sam như bừng sáng lên giữa “đám lửa” rực rỡ của mùa phượng vĩ nở hoa.

Nơi núi Sam ngự trị

Một góc núi Sam


Người ta gọi là núi Sam. Núi có diện tích khoảng 280ha, với độ cao vừa phải 241m. Vào thời nhà Nguyễn, núi Sam thuộc thôn Vĩnh Tế, phủ Tuy Biên - ngày nay là xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là rặng núi lẻ loi cuối cùng của miền Nam Việt Nam. Khi đứng từ trên đỉnh cao nhất của núi Đá Dựng (cách đó khoảng 6km) ta sẽ nhìn thấy giữa cánh đồng xanh ngát là hình ảnh một con sam. Có nhiều câu chuyện truyền thuyết về loài sam từng sinh sống nơi đây.

Vùng đất này thật trù phú, cả một đoạn đường dài một bên là biển, bên kia là những cánh đồng lúa xanh ngát, cây cối tươi tốt quanh năm. Thỉnh thoảng, xuất hiện những ngôi chùa mang đậm nét kiến trúc Campuchia (thờ đạo Phật – phái An Tông hoặc Tiểu Thừa, tăng ni thường mặc áo vàng và sống bằng cách đi khất thực). Nơi này khí hậu ôn hòa mát mẻ vì ngoài cánh đồng, núi Sam còn được bao bọc bởi hệ thống kênh rạch.

Đường lên núi Sam

Đường lên núi Sam

Từ hai thế kỷ trước, qua ngòi bút của Thoại Ngọc Hầu (trong bia “Vĩnh Tế Sơn”) thì núi Sam đẹp như một bức tranh phong thủy. Trong vòng bán kính khoảng 10km đổ lại bên cạnh núi Sam còn có nhiều công trình kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa đã được Nhà nước công nhận xếp hạng như: Chùa Tây An, Miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Hang... và nhiều thắng cảnh đẹp như đồi Bạch Vân, vườn Tao Ngộ...

Tách khỏi dòng người đổ về viếng núi Sam trong ngày lễ, theo lời kể của một người dân địa phương, tôi men xuống sườn Đông núi Sam để tìm một ít lá giang. Nếu đã từng nhấm qua một lần cái hương vị của loại lá này, ta sẽ cảm nhận sự thú vị ở đầu lưỡi bởi vị chua thanh lẫn chút bùi bùi. Lá giang dùng nấu canh với thịt gà ăn rất ngon.


Và lạ lắm, cùng một loài này nhưng nếu mọc ở sườn núi phía Tây hay phía Đông thì hương thơm, vị ngon và độ màu cũng khác nhau. Một người dân địa phương giải thích rằng, ở sườn phía Đông núi Sam đón nhận ánh nắng đầu tiên của mặt trời nên loài cây trái nào hương vị cũng thanh hơn.

Những truyền thuyết in trên núi đá

Hang Thủy Tề

Chuyện về loài Sam vẫn chưa kết thúc. Tôi được thầy Ngọc Minh, một tăng sư đã có 15 năm gắn bó với ngọn núi thơ mộng kể cho nghe một truyền thuyết khác. Thầy đưa tôi đến một cái miệng hang hiện đã được lấp tạm thời bằng xi măng, phía bên trái cách lối đi vào chừng khoảng 3 mét, thầy bảo đây là đường đi xuống thủy tề. Tôi ngạc nhiên, thầy tiếp tục câu chuyện của mình...

Phía bên trên miệng hang, nhìn thẳng lên vách núi dựng đứng có cái lỗ thông thiên, đường kính khoảng gần 1 mét vuông. Trước đây có một cái dây thừng thòng từ miệng hang xuống, nhưng vì du khách đến đây đu dây nhiều quá nên bị đứt một nửa. Năm 1978, Pôn Pốt tràn qua chiếm đóng vùng đất này, chính quyền địa phương đã cho lấp hang lại vì sợ chúng cất giấu vũ khí.

Truyền thuyết kể lại đây chính là nơi ở của con đại bàng, nó đã bắt cóc công chúa và đi vào hang bằng lỗ thông thiên. Trên vách đá của hang in hình người màu trắng, trên vai quàng con vật hình thù như đầu chằn tinh, tay trái dìu công chúa, khiến người ta liên tưởng đây là ông Thạch Sanh.

Bàn thờ Thủy Tề 200 tuổi

Là chuyện từ cái hang này, sau khi Thạch Sanh giết đại bàng, giải thoát công chúa, Lý Thông muốn giành công nên gọi lính lấp miệng hang để giết Thạch Sanh. Không ra khỏi hang được, Thạch Sanh mới lần tìm lối đi khác, cuối cùng tìm ra cửa biển và gặp người có đuôi giống cá...

Bên cạnh cái hang được gọi là “vương địa” đại bàng, qua một lối đi lớn sẽ gặp cái hang thứ hai. Trên miệng hang có bàn thờ Thủy Tề, phía bên trong hang có 3 lối đi nhỏ. Ở dưới hang có loài đá rất lạ, không phản chiếu ánh sáng, rọi đèn vào ánh sáng bị hút hết. Chỉ có đèn dầu mới thắp sáng được dưới này, nhưng đèn dầu mà không có không khí thì không cháy. Cho đến bây giờ cái hang kỳ lạ này vẫn chưa được khám phá.

Người con gái trên đá


Theo thời gian, những lớp đá canxi gặp mưa nhiều hút nước trương ra tạo thành những hình thù rất kỳ lạ. Ở một nhánh cửa hang phía Nam, cạnh phiến đá Đại Hồng Chuông khá nổi tiếng là khối đá hình con sử tử từ trên trời bay xuống. Trên đầu sư tử có hình Đức Phật. Theo kinh Pháp Hoa, nhân vật cưỡi sư tử là Bồ Tát Văn Thù - người có tiếng nói êm dịu - tượng trưng cho trí tuệ, phá đêm tối của vô minh. Tôi hỏi khối đá này đã xuất hiện tự khi nào thì được biết nó đã có từ khi thạch động xuất hiện và ngày càng lớn dần thêm.

Chuông cổ

Lại nói về Đại Hồng Chuông, nhìn kỹ sẽ thấy những khối đá rời, đá có tiếng kêu rất thanh. Nhưng đã nhiều năm trôi qua, kể từ ngày cái chui đánh chuông do người Miên khai phá mảnh đất này mang về xứ, ta có đẽo nhiều cái khác nhưng đánh vào chuông không kêu!

Và cứ thế, những câu chuyện kéo dài mãi... Những truyền thuyết sao lại ứng với tạo vật của thiên nhiên lạ thường, càng khiến cho lời kể thêm hấp dẫn hơn. Mãi nghe, tôi vô tình đưa tay chạm vào một nhũ thạch (vú đá). Vào mùa mưa từ nhũ thạch này phun lên dòng nước trong vắt, mát lành. Có người nói uống nước này có thể chữa được bệnh.

Chiều đã về rất muộn, chim yến gọi bầy quấn tổ, những du khách cuối cùng đã rời núi. Tiếng chuông chùa vọng lại xa xa. Từ biệt núi Sam, hẹn lòng sẽ quay trở lại vì còn nhiều truyền thuyết chưa kịp khám phá…